Bây giờ là...

Hằng Nga mến chào

0 khách và 0 thành viên

Tài nguyên Website

Tiện ích My Blog

-*GOOGLE THÔNG MINH*-

-*-*-TỪ ĐIỀN QUỐC TẾ-*-*-


Tra theo từ điển:

Liên hệ trực tuyến

  • (Nguyễn Thị Hằng Nga)

ĐIỂM TIN GIÁO DỤC

Ảnh ngẫu nhiên

Happy_new_year.swf 0.Video017.flv _Gui_song_The_Hien.swf BUON_02.swf Xuanson062000__hoa_tim_nguoi.swf Em_oi_ha_noi.swf Ongdochungtuluu.swf Bechuctet.swf Tamsunangxuan.swf Madaothanhcong.swf CUUNON_CHUC_TET.swf Doi_dieu.swf Anhchoemmuaxuan03.swf Images_22.jpg Diendanhaiduongcom20012m.jpg Diendanhaiduongcom19072.jpg Images29.jpg Diendanhaiduongcom19072_13.jpg IMG_00412.jpg Dao_truong_sa.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > NHỮNG TÁC PHẨM HAY >

    Người lính với " Đò Lèn" của Nguyễn Duy

    Người lính với "Đò Lèn"


    ĐÒ LÈN

     

    Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

    níu váy bà đi chợ Bình Lâm

    bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

    và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

     

    Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị

    chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

    mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

    điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

     

    Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

    bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan

    bà đi gánh chè xanh Ba Trại

    Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

     

    Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực

    giữa bà tôi và tiên phật thánh thần

    cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

    cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm.

     

    Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất

    đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

    Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

    bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn!

     

    Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại

    dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

    khi tôi biết thương bà thì đã muộn

    bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!

    1983

    Nguyễn Duy



    Lời bình của Nguyễn Ngọc Phú

    Trong các bài thơ viết về miền quê, thì Đò Lèn của Nguyễn Duy là bài gây ấn tượng mạnh. Bởi từ một miền quê Đò Lèn cụ thể nhà thơ đã bắt được hồn quê đau đáu của xứ Thanh và rộng ra cả Hồn Việt của Đất nước thân yêu chúng ta. Bài thơ liệt kê rất nhiều những địa danh cụ thể: chùa Trần, đền Cây Thị, Đồng Quan, Ba Trại, Quán Cháo, Đồng Giao… nhưng những mảng kí ức rứt ra, được thổi vào đó hồn vía thi sĩ tài hoa vừa đằm sâu vừa bay bổng, vừa chi tiết, vừa gợi cảm. Cái không khí làng quê Việt vừa có gì bảng lảng sương khói tâm linh nhưng cũng rất rõ rệt tưởng như có thể nắm bắt được. Một lối tạo hình ngữ nghĩa như chạm khắc chìm khuất sau đó những tầng vỉa của kỷ niệm tươi ròng lấp lánh như một thứ quặng vàng sa khoáng ấm áp tình người, tình đời.

    Ta hãy đọc và hình dung ra một Nguyễn Duy đáng yêu thành thật đến hồn nhiên: “níu váy bà đi chợ Bình Lâm” rồi “bắt chim sẻ ở vành tai tượng phật” và “đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần”. Tứ thơ gợi về một thời xa lắc thả vào không gian làng quê là những đền, những chùa là không khí phật giáo - nét đặc trưng của nông thôn Việt. Chỉ vài câu thơ tài hoa Nguyễn Duy đã dựng dậy cả một không gian tâm linh thuần Việt: “Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắng/ điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”. Đây là những câu thơ cảm bằng thị giác đẩy lên thành trực giác. Hai chữ “lảo đảo” làm xô lệch cả không gian vốn cấu trúc rất cân đối, thật gợi, thật sống. Từ sự cảm nhà thơ chuyển sang một cung bậc mới là sự nghĩ. Đó cũng là bước chuyển từ cái tuổi thiếu niên sang người lớn. Vận động của tứ thơ là chuyển dịch thời gian tuyến tính. Hình ảnh người bà là tâm điểm hạt nhân tình cảm bài thơ: “Bà tôi đi chợ Đồng Lâm”, bà tôi “Mò cua xúc tép ở Đồng Quan; bà tôi “Gánh chè xanh Ba Trại”. Và tôi là cái gạch nối giữa: Bà tôi và tiên phật thánh thần. Khi tôn vinh bà lên thành thần tượng lung linh kỳ ảo, nhà thơ đột ngột lại đưa hình ảnh của bà về cuộc sống đời thường: “Bà tôi đi bán trứng ở Ga Lèn” khi mà: “Bom Mỹ dội nhà bà tôi bay mất”. Từ cảm nghĩ đến nhận thức: “Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” là một ý tưởng hay có tính triết lý nhưng không áp đặt. Thơ Nguyễn Duy là thế, cứ tưng tửng mà thành hệ trọng. Ở đây ta phải ghi nhận cách dùng từ rất đắc địa của ông: “Cái năm đói củ dong riềng luộc sượng” hay “Quán cháo Đồng Giao thập thững những đêm hàn”. Một chút “sượng” đến “đêm hàn” như chạm, như khắc, như phả vào dựng dậy cả hồn vía bài thơ ngỡ như không có từ nào chính xác hơn thay thế được.

    Đò Lèn, miền tâm tưởng chính là thần thái của bài thơ đầy chi tiết nhưng cũng rất biểu cảm. Hình ảnh: “Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi” như cái chấm hết của bài thơ nhưng tiếng vọng của nó vẫn còn day dứt mãi bởi: “Khi tôi biết thương bà thì đã muộn” vì “Tôi đi lính lâu không về bên ngoại”. Bài thơ không viết trực diện về chiến tranh, về người lính nhưng vẫn giữ được cái không khí thời điểm ấy. Đây cũng là cách tiếp cận với hiện thực đời sống qua hiện thực tâm trạng. Từ hai bờ sông Thiện - Mỹ, Đò Lèn đã chở nặng phù sa bồi đắp ấm áp tình người…

    Hà Tĩnh, tháng 12/2013
    (Ảnh Internet)

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Hang Nga @ 16:40 30/12/2013
    Số lượt xem: 713
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến