Bây giờ là...

Hằng Nga mến chào

0 khách và 0 thành viên

Tài nguyên Website

Tiện ích My Blog

-*GOOGLE THÔNG MINH*-

-*-*-TỪ ĐIỀN QUỐC TẾ-*-*-


Tra theo từ điển:

Liên hệ trực tuyến

  • (Nguyễn Thị Hằng Nga)

ĐIỂM TIN GIÁO DỤC

Ảnh ngẫu nhiên

Happy_new_year.swf 0.Video017.flv _Gui_song_The_Hien.swf BUON_02.swf Xuanson062000__hoa_tim_nguoi.swf Em_oi_ha_noi.swf Ongdochungtuluu.swf Bechuctet.swf Tamsunangxuan.swf Madaothanhcong.swf CUUNON_CHUC_TET.swf Doi_dieu.swf Anhchoemmuaxuan03.swf Images_22.jpg Diendanhaiduongcom20012m.jpg Diendanhaiduongcom19072.jpg Images29.jpg Diendanhaiduongcom19072_13.jpg IMG_00412.jpg Dao_truong_sa.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VÀ CUỘC SỐNG >

    DI SẢN HÁN NÔM VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA HÔM NAY

    ­Hôm qua (4/12/2012) tại Viện nghiên cứu Hán Nôm đã tổ chức Hội nghị thông báo Hán Nôm Học năm 2012, để tổng kết những công trình nghiên cứu về di sản Hán Nôm mới nhất trong năm qua. Có 119 công trình nghiên cứu Hán Nôm mới của năm nay đã được gửi đến Hội nghị, trong đó có nhiều công trình rất có giá trị. Tác giả bài viết cũng đã gửi tới Hôi nghị thông báo về công trình nghiên cứu mới nhất cuả mình trong năm 2012: KHẢO SÁT VÀ GIỚI THIỆU VĂN BẢN THƠ VĂN ĐÀO NGHIỄM. Sau đây là nội dung bài viết.

    dscf2818_500

    Bài tham dự Hội nghị Thông báo Hán Nôm học, 2012

    VỀ VĂN BẢN THƠ CA CỦA ĐÀO NGHIỄM

    TRONG CÁC BẢN SAO TOÀN VIỆT THI LỤC

    . Hà Minh, TS, Khoa Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội . . . Nguyễn Hằng Nga, ThS, Sở GD&ĐT Hà Nội

    Đào Nghiễm 陶 儼 (1496 - ?), tự Nghĩa Xuyên, người xã Thiện Phiến huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên - một vùng quê nổi tiếng về khoa cử và Nho học, nơi tập trung văn hiến của cả một dải đất đông nam Kinh kì. Đào Nghiễm là cháu ba đời của Đào Công Soạn (1) - danh thần, sứ thần, nhà thơ nổi tiếng đời Lê Thái Tổ (1428 – 1433); là cha của Đào Phạm (2) – danh thần triều Mạc. Đào Nghiễm đỗ Tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên năm thứ hai (1523) đời Lê Cung Hoàng, sau đó làm quan cho nhà Mạc tới chức Tả thị lang bộ Binh kiêm Đông các Đại học sĩ, tước Đạt Nghĩa Hầu. Ông là một trong số những nhân vật trọng yếu của lịch sử triều Lê – Mạc. Bên cạnh những đóng góp to lớn về chính trị đã được ghi nhận, Đào Nghiễm còn để lại  một di sản thơ ca có giá trị, cần được khai thác và giới thiệu (3). 

    Thời đoạn lịch sử đầy biến động mà Đào Nghiễm sống đã ảnh hưởng không nhỏ đến con người, sự nghiệp và tư tưởng của ông. Là một nhà Nho chân chính và đỗ đạt cao, ông đã từng làm quan cho nhà Lê. Nhưng với nhãn quan lịch sử sáng suốt, giống như nhiều trí thức nổi tiếng đương thời, ông đã nhận ra sự tiến bộ tích cực trong những chính sách của nhà Mạc đối với sự thay đổi và phát triến của đất nước. Với tấm lòng ưu dân ái quốc, Đào Nghiễm đã ra làm quan cho nhà Mạc, những mong thực hiện chí hướng và khát vọng của một nhà Nho luôn trăn trở với triết lí sống “vị thời nhi hành”. Những năm đầu triều Mạc Đăng Dung, Đào Nghiễm được cử làm Chánh sứ trong đoàn sứ bộ sang nhà Minh. Trên đường đi sứ, ông viết Nghĩa Xuyên quan quang tập義川觀光集. Theo gia phả họ Đào - Thiện Phiến và một số tài liệu khác, thì tập thơ này có 162 bài chữ Hán nhưng nay đã thất lạc, hiện chỉ còn biết được gần 30 bài chép rải rác ở một vài tư liệu thi văn tập chữ Hán đời sau. Đào Nghiễm là một nhà thơ có phong cách trong số không nhiều những nhà thơ triều Mạc. Thơ của ông thanh thoát, bình dị, không ưa cầu kì, bí hiểm. Bên cạnh những bài thơ đề vịnh thiên nhiên, có nhiều bài biểu đạt tinh thần ưu thời mẫn thế, bộc lộ suy tư sâu sắc của nhà thơ trước những vấn đề chính trị, quốc sự đặt ra đương thời.

    Văn bản ghi chép thơ ca Đào Nghiễm:

    Nghĩa Xuyên quan quang tập 義川觀光集 (Tập thơ đi sứ của Nghĩa Xuyên) hiện chỉ còn biết được tên trong một số tài liệu thư mục học, mà những người đầu tiên nhắc đến là Lê Quý Đôn (?) và Phan Huy Chú (4). Các tài liệu tiếng Việt về sau hầu như đều ghi theo họ Lê và họ Phan mà không có thêm thông tin mới. Trải qua một quá trình tìm kiếm lâu dài với công sức của nhiều người, đến nay có thể kết luận, tập thơ đã thất truyền, cũng giống với tình hình chung của văn bản tác phẩm của các tác giả thời Trung đại, đặc biệt là các tác gia triều Mạc. Theo gia phả họ Đào ở làng Thiện Phiến, thì tập thơ này có 162 bài chữ Hán (5) nhưng xem ra không có căn cứ xác thực. Thành thử, khi đặt vấn đề sưu tầm, nghiên cứu hồ sơ tác giả Hán Nôm của những tác gia như Đào Nghiễm, giới nghiên cứu chỉ có thể tìm tòi ở các mảng tư liệu khác có liên quan mà người đời sau đã ghi chép được. Cũng chính vì thế, để đưa ra được diện mạo văn bản mang tính quy phạm (6) cho từng nhóm, từng mảng văn bản tác phẩm loại này, chúng ta phải đối mặt với một loạt các vấn đề văn bản học phức tạp cần giải quyết.  

    Chúng tôi đã mở rộng tìm kiếm dị bản các bài thơ của Đào Nghiễm tại các nguồn tư liệu thường ghi chép lẻ tẻ thơ văn của các nhà từ đời Lê về sau như Danh thần truyện kí, Cẩm tuyền vinh lục và các nguồn văn liệu, sử liệu khác … nhưng đều không có thông tin gì. Hiện tại, chỉ có Toàn Việt thi lục (TVTL) [11] là tư liệu duy nhất chép được 27 bài thơ – đều thuộc phạm vi thơ đi sứ của Đào Nghiễm. Dẫu sao, đây hãy còn là điều may mắn so với nhiều nhà thơ khác thời trung đại. Xét văn bản của 13 bản sao TVTL hiện tồn (7), thơ Đào Nghiễm chỉ được ghi chép trong quyển 16 của 3 bản sao. Đó là các bản A.132, A.3200 và HM.2139/B. Trong đó, 2 bản đầu hiện lưu tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bản sau (HM.2139/B) do chúng tôi sưu tầm từ nước ngoài và được công bố gần đây (8).

    Đến đây, điều phức tạp nảy sinh là: việc biện ngụy để xác lập văn bản thơ của Đào Nghiễm có sự liên hệ mật thiết với việc chứng minh tính chân thực (trong việc ghi chép thơ văn) của các bản sao TVTL. Bởi vì, từ quyển 16 trở đi của các bản sao TVTL, là những quyển ghi chép thơ triều Mạc về sau, tồn tại nhiều nghi vấn về tính xác thực, thậm chí tồn tại những bộ phận chắc chắn nằm ngoài bộ TVTL vốn có của Lê Quý Đôn. May mắn tiếp theo là, sau khi thẩm định chi tiết văn bản [5], chúng tôi cho rằng: đối với tác phẩm của từng tác giả cụ thể thuộc phần văn bản này, hoàn toàn có thể lấy phần diện mạo TVTL hiện tại làm cơ sở để tái xác lập lại văn bản. Đào Nghiễm là tác giả thuộc số ấy.

     Hiện trạng các quyển 16 trong 3 bản sao TVTL – là quyển ghi chép được thơ Đào Nghiễm - cụ thể như sau:

    . Bản A.132/-3: Là loại văn bản do Viễn Đông bác cổ sao lại từ một bản sao triều Nguyễn. A.132 do nhiều người sao chép, lệ kiêng húy vì thế cũng không được tuân thủ triệt để ở các tập/ các quyển khác nhau. Nếu như các quyển khác đều phần nào tuân thủ lệ kiêng húy, thì phần chép quyển 16 lại tuyệt không thấy xuất hiện. Quyển này ngoài chép thơ của Đào Nghiễm còn chép thơ của 16 tác giả nữa của triều đại nhà Mạc. Mở đầu là tác giả Phạm Khiêm Bính và cuối cùng là tác giả Nguyễn Quản. Văn bản chép lối chữ chân, kiểu chữ thống nhất, dễ đọc, chấm câu khá rõ ràng; tuy nhiên tự dạng có xen lẫn cách viết tắt, viết tục thể, dị thể.

    . Bản A.3200: Đây là bản được sao chép từ một bản thời Tự Đức về sau, thể hiện rõ qua việc kị húy chữ thời 寺日. Văn bản chép lối chữ chân, kiểu chữ thống nhất, do một người chép, dễ đọc. Cũng như A.132, bản này có nhiều chữ viết tắt, viết tục thể, dị thể. Điều khác biệt nữa là bản này chép từ phải qua trái, chứng tỏ nó có niên đại rất muộn. Văn bản chưa chấm câu và kết thúc mỗi bài thơ đều không tách dòng như ở các bản khác mà viết tiếp liền trong cùng dòng. Đặc điểm sao chép như trên khiến người đọc khó khảo sát văn bản, mặt khác cho thấy rõ nó chưa được kiểm định, hiệu đính bởi bất kì ai. Chất lượng sao chép của bản này kém hơn A.132, thể hiện ở chỗ số lượng chữ viết sai, viết nhầm hoặc sửa chữa tùy tiện khá phổ biến (xem thêm: [5]) .

    . Bản HM.2139/B: HM.2139/B chỉ có 2 quyển 15 và 16, trong đó quyển 16 chép 101 bài thơ của 17 tác giả triều Mạc, về cơ bản giống như các quyển 16 ở những bản khác. Văn bản không có hiện tượng kiêng húy triều Nguyễn như các bản TVTL còn lại. Qua khảo sát, chúng tôi đã xác định đây là bản có niên đại triều Lê (7), sớm hơn A.132 và A.3200. Văn bản chép lối chữ chân, nét đậm, chữ to, kiểu chữ thống nhất, do một người chép, dễ đọc, chấm câu rõ ràng, chữ viết đẹp, hầu như không sai sót. Chữ viết của bản này về cơ bản theo dạng phồn thể chính cách, là một điểm ưu thế nổi bật so với các bản còn lại.

    Thông qua phân tích sơ lược như trên, chúng tôi nhận thấy trong 3 bản sao TVTL đã khảo sát thì HM.2139/B có thể chọn làm bản cơ sở để tiến hành khảo dị văn bản, vì: (a) đây là bản sao TVTL đã được chứng minh là có niên đại sớm nhất, do vậy, về lí thuyết có thể là bản đáng tin cậy nhất. (b) là bản chép cẩn thận, ít sai sót, dễ đọc nhất trong 3 bản sao. (c) số lượng các bài thơ của Đào Nghiễm hoàn toàn thống nhất so với 2 bản còn lại. (d) số lượng chữ khuyết thiếu ít nhất, cộng 5 chữ tại 2 bài thơ.

    Diện mạo thơ Đào Nghiễm trong các bản sao TVTL:

    Qua khảo sát, so sánh văn bản 27 bài thơ của Đào Nghiễm trong 3 bản sao TVTL, thấy nổi rõ một số đặc điểm sau:

    Về trình tự ghi chép: Phần chép về Đào Nghiễm của cả 3 bản đều giống nhau về thứ tự các tác giả được chép trong quyển 16 [Đào Nghiễm là tác giả thứ 16, trước là Trần Kiệt, sau là Nguyễn Quản]. Thứ tự và số lượng các bài thơ có tính thống nhất khá cao, sau phần ghi tiểu truyện về tác giả, nội dung thơ ca được chép trước hết là 2 bài cổ thể, tiếp đến là 25 bài cận thể. Trình tự các bài thơ cận thể ở bản HM.2139/B giống với A.132 và có sự khác biệt đôi chút so với bản A.3200. Sự thống nhất của 2 bản HM.2139/B và A.132 khẳng định phần chép thơ Đào Nghiễm trong 2 bản sao này đều được bắt nguồn từ một hoặc các bản sao mà ở đó chúng có mối liên hệ với nhau, là cơ sở để xác nhận tính chân thực về văn bản cao hơn so với bản A.3200.

    Về tự dạng: Văn tự của cả 3 bản sao tuy đều viết lối chữ chân nhưng có sự cách biệt lớn về diện mạo. Chúng tôi lập bản thống kê chi tiết [10] và nhận thấy, A.132 có 101 chữ viết tục thể, dị thể; A.3200 có 75 trường hợp; trong khí HM.2139/B chỉ có 16 trường hợp. Lối viết của A.132 và A.3200 bộc lộ rõ sự không thống nhất, có khi cùng một chữ nhưng lúc viết dạng này, lúc viết dạng khác, còn HM.2139/B về cơ bản viết dạng chính thể. Quy cách ghi chép như vậy, ngoài việc cung cấp thông tin về người sao chép, cũng là một căn cứ cho thấy tính quy phạm của văn bản cơ sở (HM.2139/B) cao hơn các bản còn lại.

    Về dị văn - dị bản: Khảo sát chi tiết ở 3 bản sao, chúng tôi thống kê, phân tích và kết luận về 16 lượt dị văn, trong đó bản A.132 và A.3200 cùng có 7 dị văn, con số này ở  HM.2139/B là 2 trường hợp [10]. Điều thú vị là hầu hết các trường hợp dị văn ở mỗi bản không tương ứng với nhau, mà xuất hiện ở vị trí các câu chữ khác nhau. Phân tích sâu vào nội dung tư tưởng và văn phong, căn cứ vào tính hợp lí của văn nghĩa và vận luật, cả 14 lượt dị văn ở các bản A.132 và A.3200 chúng tôi đều đề xuất tái xác lập theo bản HM.2139/B; còn 2 trường hợp dị văn ở HM.2139/B, tuy trong văn cảnh đều thông nghĩa nhưng chúng tôi đề nghị xác lập theo A.132 hoặc A.3200. Tuy còn có thể tiếp tục xem xét, nhưng ở cả cấp độ tổng thể và chi tiết, điều này khẳng định tính chân thực cao về văn bản của HM.2139/B.

    Về tính chân thực của văn bản: Như chúng tôi đã phân tích và nhận định [5], phần chép thơ của các tác giả từ triều Mạc về sau (tức là từ quyển 16 trở đi) trong diện mạo các bản sao TVTL hiện tại có khả năng vượt ra ngoài phạm vi vốn có của bộ sách mà Lê Quý Đôn đã sao lục. Nhưng xét về tính chân thực trong việc ghi chép thơ ca của các nhà thì tính khả tín của bộ phận bản sao này cần được khẳng định. Với trường hợp thơ đi sứ của Đào Nghiễm, sau khi so sánh đối chiếu, bổ sung bổ khuyết cho nhau giữa 3 bản sao TVTL, chúng ta có được một diện mạo khả dĩ đảm bảo được tính nguyên toàn của văn bản: bao gồm cả tiểu truyện tác giả, nhan đề bài thơ, hệ thống chú giải và nội dung các tác phẩm. Hiện tại, 27 bài thơ đi sứ của Đào Nghiễm chỉ khuyết thiếu 1 chữ, nếu so với các giả khác cùng được chép trong TVTL thì diện mạo văn bản thơ của Đào Nghiễm thuộc loại đầy đủ nhất. Mặt khác, sau khi dịch chú toàn bộ thơ Đào Nghiễm [10], có thể khẳng định tính hoàn thiện về mặt nội dung và nghệ thuật của toàn bộ các sáng tác này.

    Xét các mối liên hệ ngoài văn bản, cho đến hiện nay, thơ của Đào Nghiễm không xuất hiện trong bất cứ một tư liệu nào khác, cũng không xuất hiện nghi vấn về sự lẫn lộn với các tác giả khác như vẫn thường thấy, đồng thời phù hợp với các thông tin chỉ dẫn tư liệu – lịch sử có liên quan. Có thể khẳng định, 27 bài thơ còn lại của Đào Nghiễm được các bản sao TVTL ghi chép là đảm bảo tính chính xác, chân thực về mặt hình thức, nội dung cũng như về tác giả. Kết quả của việc so sánh đối chiếu văn bản như đã thực hiện cho phép xác lập văn bản quy phạm đối với sáng tác của Đào Nghiễm, trong đó HM.2139/B có thể coi là thiện bản. Đây là cơ sở cho việc tìm hiểu, đánh giá giá trị thơ ca của ông. Chúng tôi xác lập danh mục 27 bài thơ đi sứ của Đào Nghiễm như sau:

    1.SsTT

    江州早行次委官姚經歴詩韻  Giang Châu tảo hành, thứ ủy Quan Diêu kinh lịch thi vận

    15.

    烏蠻灘 Ô Man than

     

    2.

    秋懷次委官姚經歴詩韻 Thu hoài thứ ủy Quan Diêu kinh lịch thi vận

    16.

    潯江舟行 Tầm Giang chu hành

    3.33

    鳳城早彂 Phượng Thành tảo phát

    17.

    經柳州 Kinh Liễu Châu

    4.

    諒山道中 Lạng Sơn đạo trung

    18.

    桂江月Quế Giang nguyệt

    5.

    宿坡壘驛 Túc Pha Lũy dịch

    19.

    次韻答姚經歴送行 Thứ vận đáp Diêu kinh lịch tống hành

    6.

    思明江行 Tư Minh giang hành

    20.

    鷄籠山 Kê Lung sơn

    7.

    登太平城 Đăng Thái Bình thành

    21.

    和尚山 Núi Hòa Thượng

    8.

    太平江津夜宿 Thái Bình giang tân dạ túc

    22.

    邕州晚行次姚經歴韻 Ung Châu vãn hành, thứ Diêu kinh lịch vận

    9.

    江州 Giang Châu

    23.

    簡委官姚良知 Giản ủy quan Diêu Lương tri

    10.

    響湖 Hưởng Hồ

    24.

    三公廟 Tam Công miếu

    11.

    秋江 Thu giang

    25.

    黃范驛 Hoàng Phạm dịch

    12.

    永淳津晚望 Vĩnh Thuần tân vãn vọng

    26.

    火煙驛 Hỏa Yên dịch

    13.

    三十里灘 Tam Thập Lí than

    27.

    海棠梂 Hải đường cầu

    14.

    伏波廟 Phục Ba miếu

    T2

    2t222

    Danh mục thơ của Đào Nghiễm tổng hợp từ các bản sao TVTL

              Với chỉ 27 bài thơ còn lại được xác lập hoàn thiện sau khi khảo dị văn bản như trên, rõ ràng rất khó có cơ sở thuyết phục để khẳng định vị trí quan trọng của Đào Nghiễm trên thi đàn văn học dân tộc nói chung. Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử văn học triều Mạc vốn có số lượng tác giả ít ỏi, thì sự hiện diện của thơ ca Đào Nghiễm có ý nghĩa không nhỏ trong việc bổ sung và khái quát về diện mạo thơ ca thời kì này. Mặt khác, giá trị tư tưởng, nghệ thuật và phong cách thơ ca mới là điều quyết định vị trí của một tác giả trong lịch sử văn học của thời đại, là điều mà chúng ta cần quan tâm nghiên cứu trong thời gian tới. Thơ ca của Đào Nghiễm hiện có thể còn tản mát ở nhiều tư liệu khác nhau, mà xét về mặt văn bản, hiện trạng của hệ thống tư liệu ấy còn nhiều vấn đề phức tạp cần giải quyết. Việc sưu tầm, tập hợp, phân loại, thẩm định tư liệu liên quan để tiến tới xác lập hồ sơ tác gia – tác phẩm Hán Nôm Đào Nghiễm là một đòi hỏi bức thiết, nhằm khẳng định vị trí của ông trên văn đàn văn học dân tộc đời Mạc.

    Chú thích:

    (1). Đào Công Soạn 陶公僎 (1381-1458) - tự Tân Khanh, có sách chép là Bảo Khanh. Năm Bính Ngọ 1426, vua Lê tuần du Đông Đô, mở khoa thi, ông dự thi và đỗ đầu trong số trúng tuyển tất cả là 32 người. Ông được bổ làm Hoàng môn thị lang, Tham tri chính sự. Rồi đi sứ Minh, về nước thăng làm Thượng thư bộ Hộ. Theo Phan Huy Chú (2008), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, NXB Giáo dục.

    (2). Đào Phạm 陶範 (? - ?) - Tiến sĩ khoa Mậu Thìn niên hiệu Thuần Phúc Nhà Mạc, làm quan tới chức Thị lang bộ Lễ. Theo Tiểu dẫn  về Đào Nghiễmtrong TVTL. HM.2139/B.

    (3). Hành trạng và sự nghiệp của Đào Nghiễm chưa được nghiên cứu toàn diện. Ta mới chỉ biết được về Đào Nghiễm qua một số thông tin ít ỏi. Chính vì thế những cống hiến của Đào Nghiễm đối với lịch sử dân tộc còn chưa được nhiều người biết đến. Cũng từ đó, chúng ta chưa thấy hết và đánh giá đúng về vị trí của ông đối với thời đại và lịch sử. Bản dịch một số bài thơ đi sứ của Đào Nghiễm [7, 8] có thể coi là những kết quả bước đầu. Về năm sinh của Đào Nghiễm, hiện có một số tài liệu ghi không thống nhất, chúng tôi chưa khảo cứu được.

    (4). Chẳng hạn: [1], [2], [10]. Về nhan đề tập thơ, có người dịch là: Tập thơ đi xem ánh sáng nước ngoài [9]. Theo chúng tôi, từ “quan quang” được sử dụng khá phổ biến với nghĩa đơn thuần là đi thăm, tới thăm. Trong văn cảnh này, cần hiểu với nghĩa đi sứ.

    (5). Tài liệu gia phả này có diện mạo tương đối lộn xộn, lẫn cả chữ Hán và chữ quốc ngữ, do thế không nên tin chắc mà cần kiểm định thêm. Cũng xem: [9].

    (6). Khái niệm “văn bản quy phạm” do GS Đặng Đức Siêu đề xuất (xin xem – [5]), khác đôi chút với các khái niệm thường dùng như thiện bản, cảo bản, bản gốc, bản trục, bản nền, bản sao… Theo đó, văn bản quy phạm có thể chỉ là một loại văn bản giả định, được tái xác lập và chứng minh tính chân thực thông qua hệ thống các bản sao và tư liệu khác nhau.

    (7). Chi tiết về các vấn đề văn bản của TVTL và phần văn bản chép thơ Đào Nghiễm, xin xem một số nghiên cứu liên quan của chúng tôi: [5], [6].

    (8). HM.2139/B lưu tại Thư viện Paris, kí hiệu do chúng tôi phục nguyên, là một đơn vị văn bản độc lập được đóng kèm với 1 bản TVTL khác (HM.2139/A). Đây là một “văn bản kép”, theo cách nói của GS Nguyễn Huệ Chi. Xin xem thêm [5, 6] và dẫn giải tiếp theo.

    Tài liệu tham khảo và trích dẫn:

    [1]. Phan Huy Chú (2008), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, NXB Giáo dục.

    [2]. Trần Văn Giáp (cb) (1971), Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    [3]. Trần Văn Giáp (1973), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam tập 1, Thư viện Quốc gia Hà Nội.

    [4]. Trần Văn Giáp (1990), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    [5]. Hà Minh (2007), Nghiên cứu văn bản Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn, LA, ĐHSP Hà Nội.

    [6]. Hà Minh (2006), Có bản sao Toàn việt thi lục ở Trung Quốc, Tạp chí Hán Nôm, số 4.

    [7]. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 5 (2000), Nxb KHXH, Hà Nội.

    [8]. Thơ đi sứ (Phạm Thiều, Đào Phương Bình...) (1993),  Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

    [9].  http://vi.wikipedia.org/

    [10]. Nguyễn Thị Hằng Nga (2012), Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội.

    [11]. 全越詩錄 , A.132; A.3200. Viện Nghiên cứu Hán Nôm; HM.2139/B. ĐHSP Hà Nội.

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Hang Nga @ 14:05 05/12/2012
    Số lượt xem: 1112
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    27 khách và 1 thành viên

     
    Gửi ý kiến