Bây giờ là...

Hằng Nga mến chào

0 khách và 0 thành viên

Tài nguyên Website

Tiện ích My Blog

-*GOOGLE THÔNG MINH*-

-*-*-TỪ ĐIỀN QUỐC TẾ-*-*-


Tra theo từ điển:

Liên hệ trực tuyến

  • (Nguyễn Thị Hằng Nga)

ĐIỂM TIN GIÁO DỤC

Ảnh ngẫu nhiên

Happy_new_year.swf 0.Video017.flv _Gui_song_The_Hien.swf BUON_02.swf Xuanson062000__hoa_tim_nguoi.swf Em_oi_ha_noi.swf Ongdochungtuluu.swf Bechuctet.swf Tamsunangxuan.swf Madaothanhcong.swf CUUNON_CHUC_TET.swf Doi_dieu.swf Anhchoemmuaxuan03.swf Images_22.jpg Diendanhaiduongcom20012m.jpg Diendanhaiduongcom19072.jpg Images29.jpg Diendanhaiduongcom19072_13.jpg IMG_00412.jpg Dao_truong_sa.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > LUYỆN THI ĐẠI HỌC MÔN VĂN >

    VẤN ĐỀ LUYỆN THI SỐ 22: HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG VÀ BÚT KÍ " AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG"

    AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

    Hoàng Phủ Ngọc Tường

     

     

    Câu hỏi 1: Nêu ý nghĩa nhan đề của tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông?

    Gợi ý:

    - Ai đã đặt tên cho dòng sông là một câu hỏi gợi sự chú ý của mọi người về cái tên đẹp của con sông: sông Hương, sông thơm.

    - Là cái cớ để nhà văn tìm hiểu, lí giải vẻ đẹp của con sông:

    ·             Bằng huyền thoại: Người làng Thành Chung có nghề trồng rau thơm.Vì yêu quý con sông xinh đẹp, nhân dân hai bên bờ sông đã nấu 100 loài hoa đổ xuống sông cho làn nước thơm mãi mãi. Huyền thoại ấy đã trả lời cho câu hỏi ai đã đặt tên cho dòng sông.  Cách lí giải gợi niềm biết ơn đối với những người có công khai phá ra miền đất này.

    ·             Bằng chính nội dung bài kí: chất thơ của con sông rất phù hợp với tên gọi của nó.

     

    Đề: “Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú” (Ngữ văn 12 – Tập I).

    Anh (chị) hãy phân tích bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của H.P.N.T để làm rõ nhận định trên.

    DÀN BÀI

     

    I. Mở bài:

    - H.P.N.T là một trong những cây bút kí tiêu biểu của VHVN hiện đại. Với thể loại kí, H.P.N.T thể hiện trên từng trang văn vốn kiến thức uyên bác và cách viết tài hoa.

    - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách kí của H.P.N.T. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa lịch sử rất phong phú”

    II. Thân bài:

    1. Khái quát:

    - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” rút từ tập bút kí cùng tên, được xuất bản năm 1984. Tập bút kí gồm tám bài viết về nhiều đề tài. Có những bài đậm chất sử thi với cảm hứng anh hùng, ca ngợi đất nước, con người VN. Có những bài thiên về miêu tả thiên nhiên, qua đó nhà văn bộc lộ lòng gắn bó với quê hương đất nước và niềm tự hào về truyền thống, văn hóa, lịch sử của dân tộc. Đặc biệt là những bài viết về Huế.

    - Trong số những bút kí đó, “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương. Dòng sông khơi gợi cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa đã được H.P.N.T cảm nhận từ nhiều góc nhìn, đặc biệt là góc nhìn tâm linh, mang những nét riêng của “văn hóa Phú Xuân”

    2. Phân tích:

    a. Chất trí tuệ của một cái tôi uyên bác: Viết về sông Hương, H.P.N.T thể hiện một sự hiểu biết sâu rộng về mọi mặt: văn hóa, lịch sử, địa lí, văn học nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông Hương và thiên nhiên, con người Huế.

    * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn địa lí:

    - Hành trình của dòng sông: với câu hỏi gợi tìm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”, bằng những bước chân rong ruổi, H.P.N.T đã tìm về cội nguồn và dòng chảy của sông Hương:

    + Ở thượng nguồn sông Hương mang vẻ đẹp hùng vĩ: chảy “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn…”; “phóng khoáng và man dại”

    + Ra khỏi đại ngàn, sông Hương chuyển dòng, giấu kín cuộc hành trình gian truân giữa lòng Trường Sơn, “ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng” -> Vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Hương giữa rừng già ít ai biết đến.

    + Chảy qua vùng rừng núi, sông Hương trở nên dịu dàng, “uốn mình theo những đường cong thật mềm”. “Dòng sông mềm như tấm lụa”, êm đềm trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, chảy qua những lăng tẩm đồ sộ, chảy qua chùa Thiên Mụ và “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà” -> Sông Hương trở thành “người mẹ phù sa” mang vẻ đẹp “dịu dàng và trí tuệ”

    + Giữa lòng thành phố Huế, dòng sông trở nên tĩnh lặng, trôi thật chậm, in bóng cầu Tràng Tiền xa trông nhỏ nhắn như “những vành trăng non”

    + Xuôi về Cồn Hến “quanh năm mơ màng trong sương khói”, hòa với màu xanh của thôn Vĩ Dạ, sông Hương mang vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng. Và thật bất ngờ, trước khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương “đột ngột rẽ dòng… để gặp lại thành phố lần cuối”. Nhà văn dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa hình dáng của dòng sông: “Đó là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu” -> Biện pháp nhân hóa đã giúp tác giả thổi hồn vào dòng sông và hơn thế nữa là một phương thức để nhà văn kết nối sông Hương với con người và văn hóa của mảnh đất Châu Hóa xưa và Huế ngày nay.

    - Sông Hương và thiên nhiên Huế: Lần theo dòng chảy của sông Hương, ta bắt gặp những bức tranh thiên nhiên đẹp mượt mà:

    + Thiên nhiên Huế được nhà văn tái hiện với vẻ đẹp đa dạng trong thời gian và không gian. Sông Hương phản quang vẻ đẹp biến ảo của Huế “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Gắn liền với dòng sông, những địa danh quen thuộc: Hòn Chén, Nguyệt Biều, Vọng Cảnh, Thiên Thai dường như sống động hơn: “sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẳm”…-> Sông Hương tôn tạo vẻ đẹp cho cảnh sắc thiên nhiên Huế và ngược lại dòng sông cũng hun đúc mọi sắc trời, văn hóa của vùng đất cố đô.

    - Sông Hương và con người Huế:

    + Thiên nhiên và dòng sông luôn gắn bó, gần gũi với con người. Qua điệu chảy của dòng sông nhà văn thấy được tính cách con người xứ Huế: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”

    + Qua màu sắc của trời Huế, màu sương khói trên sông Hương nhà văn thấy cách trang phục trang nhã, dịu dàng của các cô gái Huế xưa “sắc áo cưới màu điều – lục các cô dâu trẻ vẫn mặc sau tiết sương giáng”

    * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn lịch sử:

    - Từ góc nhìn lịch sử, sông Hương không còn là cô gái “Di – gan man dại”, không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà trở thành chứng nhân của những biến thiên lịch sử. Nhà văn ví sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc” -> Sự hòa quyện giữa chất hùng tráng và trữ tình. Sông Hương là một bản anh hùng ca, đồng thời giữa đời thường sông Hương là một bản tình ca “Còn non, còn nước, còn dài – Còn về, còn nhớ…”

    - H.P.N.T đã nhìn thấy từ dòng sông những dấu tích lịch sử; từng nhánh rẽ của dòng sông, đến “những cây đa, cây cừa cổ thụ” cũng hàm ẩn một phần lịch sử:

    + Nhà văn đã ngược về quá khứ để khẳng định vai trò của dòng sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các Vua Hùng, sông Hương là “dòng sông biên thùy xa xôi”. Trong những thế kỉ trung đại, với tên gọi Linh Giang, nó đã “oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của Tổ quốc Đại Việt”. Sông Hương gắn liền với những chiến công Nguyễn Huệ. Sông Hương đẫm máu những cuộc khởi nghĩa TK XIX. Sông Hương gắn liền với cuộc CMT8 với những chiến công rung chuyển. Và sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế oằn mình dưới sự tàn phá của bom Mỹ… -> Chất trữ tình của tùy bút giảm đi, nhường chỗ cho chất phóng sự với những sự kiện lịch sử cụ thể.

    => Quay về quá khứ xa xưa, ngòi bút nhà văn lấp lánh niềm tự hào về lịch sử một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng nhưng kiên cường, kiêu hãnh qua thăng trầm lịch sử.

    * Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:

    Trong cảm nhận tinh tế của nhà văn, sông Hương còn hàm chứa trong bản thân nó nền văn hóa phi vật chất

    - Sông Hương _ dòng sông âm nhạc:

    + Từ âm thanh của dòng sông (tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiếng mái chèo khua sóng đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền…) đã hình thành những làn điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Và rồi cũng chính trên dòng sông ấy, những câu hò Huế vút lên, mênh mang, xao xuyến…

    + Viết về sông Hương, nhiều lần nhà văn đã liên tưởng đến “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đại thi hào đã từng có thời gian sống ở Huế, những trang Kiều ra đời từ mảnh đất có truyền thống nhã nhạc cung đình. Đó là cơ sở để H.P.N.T hóa thân vào một nghệ nhân già, nghe những câu thơ tả tiếng đàn của nàng Kiều, chợt nhận ra âm hưởng của âm nhạc cung đình và bật thốt lên: “Đó chính là Tứ đại cảnh” -> Bóng dáng Nguyễn Du và những trang Kiều nhiều lần xuất hiện trong bài kí bộc lộ một khả năng liên tưởng phong phú, một vốn văn hóa sâu rộng và sự gắn kết với truyền thống, một sự đồng điệu tâm hồn nhà văn.

    - Sông Hương _ dòng sông thi ca:

    + H.P.N.T đã làm sống dậy những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về xứ Huế: “Dòng sông trắng – Lá cây xanh”. Hình ảnh thơ này cùng với câu chữ của tác giả “màu cỏ lá xanh biếc” là minh chứng cho sự tương giao của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên Huế.

    + Nhà văn cũng làm sống dậy một sông Hương hùng tráng bất tử “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, một sông Hương “nỗi quan hoài vạn cổ” trong thơ Bà Huyện Thanh Quan…

    => Bằng vốn kiến văn phong phú, H.P.N.T đã lay động linh hồn của con sông mà tên gọi của nó đã đi vào văn chương nghệ thuật mà theo tác giả “Dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”

    b. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:

    - Chất thơ toát ra từ những hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”

    - Chất thơ còn lấp lánh ở cách H.P.N.T điểm xuyết ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.

    - Chất thơ còn tỏa ra từ nhan đề bài kí gợi mãi những âm vang trầm lắng của dòng sông : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

     

    III. Kết bài:

    - Chất trí tuệ và chất thơ kết hợp hài hòa trong tác phẩm của H.P.N.T tạo nên phong cách đặc sắc của nhà văn này.

    - “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” không chỉ là một trong những tác phẩm hay nhất viết về sông Hương mà còn là bút kí đặc sắc vào bậc nhất của VHVN hiện đại.

     

    §Ò bµi: Ph©n tÝch vÎ ®Ñp dßng s«ng H­¬ng qua bµi tuú bót.

     

    Gîi ý:

     

    1. Vẻ đẹp của dòng Sông Hương

    a. Vẻ đẹp được phát hiện từ cảnh sắc thiên nhiên.

    * Từ Thượng nguồn

    - Khi qua dãy Trường Sơn hùng vĩ.

    + Sông Hương là bản tình ca của rừng già.

    Rầm rộ và mãnh liệt…Dịu dàng và say đắm….

    -> Sự hợp âm của những nốt bổng, nốt trầm để mãi ngân nga vang vọng giữa đại ngàn của Trường Sơn.

    + Sông Hương như 1 cô gái Di gan phóng khoáng man dại.

    Rừng già đã hun đúc cho nó 1 bản tính gan dạ, 1 tâm hồn tự do, phóng khoáng.

    Cũng chính rừng già nơi đây đã chế ngự sức mạnh bản năng của người con gái Sông Hương.

    -> Vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung, mãnh liệt và hoang dại.

    - Khi ra khỏi rừng già.

    + Đóng kín phần tâm hồn sâu thẳm của mình ở cửa rừng…

    + Mang 1 sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của 1 vùng văn hoá xứ sở.

    -> Vẻ đẹp đầy bí ẩn, sâu thẳm của dòng sông.

    Nhận xét: Bằng óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú, bằng việc sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hoá tài hoa, táo bạo, HPNT đã phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp mạnh mẽ, trẻ trung đầy cá tính của dòng sông, gợi lên ở người đọc những liên tưởng kì thú gợi cảm xác đáng đầy sức hấp dẫn.

    *Bình một số chi tiết đặc sắc.

    (+ Bản tình ca của rừng già.          + Cô gái di gan phóng khoáng man dại…)

    * Về Châu thổ

    - Sông Hương tìm đến Huế.

    + Chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm.

    Từ ngã ba Tuần -> chảy theo hướng Nam -Bắc qua Hòn Chén.

    Chuyển hướng sang Tây- Bắc vòng qua Nguyệt Biển, Lương Quán.

    Đột ngột rẽ 1 hình cung thật tròn về phía đồng bằng ôm lấy chân đồi Thiên Mục, xuôi dần về  Huế.

    -> Như 1 cuộc tìn kiếm có ý thức để đi gặp thành phố tương lai của nó.

    + Vẻ đẹp của dòng sông trở nên biến ảo vô cùng.

    Qua Tam Thai, Vọng Cảnh                DS mềm như tấm lụa…

                                                                     

                                                                             DS như 1 tấm gương phản  chiếu màu sắc…

    Đến vùng rừng thông u tịch, lăng tẩm của vua chúa triều Nguyễn: DS mang vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc như triết lí, như cổ thi.

    Tới ngoại ô Kim Long: vẻ đẹp tươi vui….

    Nhận xét: -> Sông Hương qua cái nhìn đầy lãng mạn của HPNT như 1 cô gái dịu dàng mơ mộng đang khao khát đi tìm thành phố tình yêu theo tiếng gọi vang vọng từ trái tim. Với NT so sánh cân đối, hài hoà đậm chất thơ, với sự phong phú về ngôn ngữ hình tượng, nhà văn đã khắc hoạ được vẻ đẹp dòng sông huyền ảo, lung linh sắc màu, người đọc đặc biệt ấn tượng về vẻ đẹp trầm mặc, cổ kính của Sông Hương gắn với thành quán lăng tẩm của vua chúa thủa trước.

    *Chọn những hình ảnh so sánh, những câu văn giàu màu sắc, tạo hình và ấn tượng

    - Cuộc gặp gỡ giữa Sông Hương – Huế

    Huế

    Sông Hương

    + Cầu Tràng Tiền = vành trăng non in gần trên nền trời.

    -> một trong những biểu tượng của Huế  như mơ màng chờ đợi, như vẫy gọi dòng sông.

    + Những lâu đài của đất cố đô soi bóng xuống dòng sông xanh biếc.

    + Uốn 1 cánh cung rất nhẹ = 1 tiếng vang vọng nói ra của tgiả.

    -> Vẻ e thẹn, ngượng ngùng khi gặp người trong mong đợi, sự thuận tình mà không nói ra.

    + Các nhánh sông toả đi khắp thành phố như muốn ôm trọn Huế vào lòng.

    + Sông Hương và Huế hoà vào làm 1, HS làm nên vẻ mộng mơ của Huế, Huế làm nên vẻ đẹp trầm tư sâu lắng của Sông Hương.

    + Sông Hương giảm hắn lưu tốc, suôi đi thực chậm… yên tĩnh, khát vọng được gắn bó, lưu lại mãi với mảnh đất nơi đây.

    Nhận xét: Cuộc gặp gỡ của Huế và Sông Hương được tác giả cảm nhận như cuộc hội ngộ của tình yêu. Sông Hương được HPNT khám phá, phát hiện từ góc độ tâm trạng: Sông Hương gặp thành phố như đến với điểm hẹn của tình yêu sau 1 hành trình dài trở nên vui tươi và mềm mại. Sông Hương qua NT so sánh đầy mới lạ, bất ngờ trở nên có linh hồn, sự sống như 1 cô gái si tình đang say đắm trong tình yêu.

    *Chọn những hình ảnh, chi tiết đặc sắc để bình.

    (Cầu Tràng Tiền    = Vành trăng non

    S.Hương uốn cong =  tiếng vang không nói ra…

    Lưu tốc S.Hương   = Slow tình cảm dành cho Huế).

    - Tạm biệt Huế để ra đi

    Sông Hương

    Huế

    + Rời khỏi kinh thành, Sông Hương ôm lấy đảo Cồn Huế, lưu luyến ra đi…

    + Đột ngột rẽ ngoặt lại để gặp thành phố yêu dấu 1 lần cuối.

    + Quanh năm mơ màng trong sương khói và biêng biếc màu xanh của tre trúc, vườn cau.

    + Thị trấn bao quanh là nơi Huế dõi theo 10 dặm trường đình.

     

          Nhận xét: Sự lưu luyến, bịn rịn của đôi tình nhân trong chia biệt. Gợi liên tưởng  đến mối tình Kim Trọng- Thuý Kiều. Sông Hương giống như nàng Kiều trong đêm tình tự với chàng Kim với nỗi vấn vương, lẳng lơ, kín đáo của tình yêu, như tấm lòng chung tình của người dân nơi Châu Hoá với quê hương xứ sở.

    b. Vẻ đẹp văn hoá của dòng sông

    - Dòng sông âm nhạc + là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya.

    + Là nơi sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc có điểm của Huế.

    + Là cảm hứng để Nguyễn Du viết lên khúc đàn của nàng Kiều.

    - Dòng sông thi ca-> 1 dòng sông thơ ca lặp lại mình

    + Là vẻ đẹp mơ màng “Dòng sông trắng lá cây xanh” trong thơ Tản Đà.

    + Vẻ đẹp hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” của Cao Bá Quát.

    + Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ bà Huyện Thanh Quan.

    + Là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu

    -> Sông Hương luôn đem đến nguồn cảm hứng mới mẻ, bất tận cho các thi nhân.

    - Dòng sông gắn với những phong tục, với vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế.

    + Màn sương khói trên Sông Hương = màu áo điền lục, 1 sắc áo cưới của các cô dâu trẻ trong tiết sương giáng.

    + Vẻ trầm mặc sâu lắng của sông Hương cũng như 1 nét riêng trong vẻ đẹp tâm hồn của người xứ Huế: “rất dịu dàng và rất trầm tư…”

    c. Dòng S.Hương với lịch sử hào hùng của mảnh đất Cố đô.

    * Là 1 dòng sông anh hùng.

    - Từ xa xưa: là 1 DS biên thuỳ xa xôi của đất nước của các vua Hùng.

    - Thời trung đại: + Dòng Linh Giang đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ biên giới phía nam tổ quốc Đại Việt.

               + Vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.

    -Thời chống Pháp:

    + Sống hết lịch sử bi tráng với  máu của các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương.

               + Đi vào thời đại CMT8 với những chiến công rung chuyển.

    - Thời chống Mĩ: + Góp mình vào chiến dịch Mùa xuân 1968 Mậu Thân.

    * SH cùng với thành phố Huế cũng chịu nhiều đau thương mất mát.

    -> Sông Hương là dòng sông có bề dày lịch sử như 1 người con gái anh hùng, khi tổ quốc gọi nó tự biết hiến đời mình làm 1 chiến công. Sông Hương là dòng sông của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc.

    -> Sử thi mà  trữ tình, bản hùng ca mà cũng là bản tình ca dịu dàng tươi mát. Đó là nét độc đáo của xứ Huế, của Sông Hương được tác giả khám phá và khắc hoạ từ góc độ lịch sử.

    d. Ai đã đặt tên cho dòng sông.

    Bài kí mở đầu và kết luận bằng 1 câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

    - Mang nghĩa hỏi: Chính nội dung bài kí là câu trả lời, 1 câu trả lời dài như 1 bài kí ca ngợi vẻ đẹp, chất thơ của dòng sông có cái tên cũng rất đẹp và phù hợp với nó: Sông Hương.

    - Mang tính chất biểu cảm.

    + Là cái cớ để nhà văn đi vào miêu tả, ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông Hương gắn với mảnh đất cố đô cổ kính tươi đẹp.

    + Thể hiện tình cảm ngỡ ngàng ngưỡng mộ thái độ trân trọng ngợi ca của tác giả với dòng sông Hương, thành phố Huế thân yêu. Vì quá yêu mà bật thành câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông!”

    2. Hình tượng cái tôi của tác giả.

    - Tình yêu thiết tha đến say đắm của tác giả đối với cảnh và người nơi xứ Huế.

    - Phong cách viết kí của HPNT: Phóng túng, tài hoa, giàu thông tin văn hoá, địa lí, lịch sử và giàu chất trữ tình lãng mạn.

     

    TỔNG KẾT.

    - Cảm nhận và hiểu được vẻ đẹp của Huế, của tâm hốn người Huế qua sự quan sát sắc sảo của HPNT về dòng sông Hương-> HPNT xứng đáng là một thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từ điểm sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc.

    - Bài kí góp phần bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào đối với dòng sông và cũng là với quê hương đất nước.

    * Câu hỏi:

    1- Hãy chỉ ra sự thống nhất trong các khám phá và thể hiện vẻ đẹp Sông Hương của tác giả.

    2- So sánh vẻ đẹp của Sông Hương với Sông Đà -> Chỉ ra nét riêng trong văn phong của 2 tác giả: HPNT và Nguyễn Tuân.

    3- So sánh vẻ đẹp của sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho một dòng sông” (Hoàng Phủ Ngọc Tường) với vẻ đẹp của sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”(Nguyễn Tuân).

    4- Sự đồng cảm của anh (chị) về những cảm xúc tinh tế và tấm chân tình đậm đà của người nghệ sĩ trong “Ai đã đặt tên cho một dòng sông” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Hang Nga @ 20:46 12/06/2013
    Số lượt xem: 11192
    Số lượt thích: 1 người (trần tăng sĩ)
     
    Gửi ý kiến