Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.
Đằng Vương các tự - 滕王閣序
Đằng Vương các tự - 滕王閣序
|
#1 |
Thể thơ: Thể loại bài từ (thời kỳ: Sơ Đường)
|
滕王閣序 |
Đằng Vương các tự |
Bài tự về gác Đằng Vương (Người dịch: Trần Trọng San)
(Đây là) quận cũ Nam Xương; phủ mới Hồng Đô.
Sao chia ngôi Dực, ngôi Chẩn; đất nối núi Hành, núi Lư.
Như cổ áo của ba sông, vòng đai của năm hồ; khuất phục đất Man Kinh, tiếp dẫn miền Âu Việt.
Vẻ rực rỡ của vật chính là đồ quý báu của trời; ánh sáng vằn rồng chiếu lên khu vực sao Đẩu sao Ngưu.
Bậc hào kiệt nơi người do khí linh tú của đất mà có; nhà cao sĩ Từ Trĩ hạ chiếc giường treo của Trần Phồn.
Chốn hùng châu như sương mù giải giăng; nguời anh tuấn như ngôi sao rong ruổi.
Đài, hào nằm gối lên giao giới vùng Di, Hạ; khách, chủ đều là những vẻ đẹp miền đông, nam.
Tiếng tăm tốt của đô đốc Diêm Bá Tự cùng với những khải kích đi đến miền xa.
Quan thái thú Vũ Văn Quân, là mô phạm của châu mới, tạm dừng xe tại chốn này.
Mười tuần nhàn rỗi, bạn tốt như mây.
Ngàn dặm đón chào, bạn hiền đầy chỗ.
Giao long vượt cao, phụng hoàng nổi dậy, đó là tài hoa của Mạnh học sĩ, ông tổ của từ chương.
Tia chớp tía, hạt sương trong, đó là tiết tháo của Vương tướng quân, nhà cai quản võ khố.
Nhân gia quân làm quan tể tại Giao Châu, tôi đi thăm miền nổi tiếng đó.
Kẻ đồng tử này đâu biết có việc chi, hân hạnh gặp buổi tiệc linh đình.
Lúc này đương là tháng chín, thuộc về ba thu.
Nước rãnh cạn, đầm lạch trong; ánh khói đọng, núi chiều tia.
Trông ngựa xe trên đường cái; hỏi phong cảnh nơi gò cao.
Đến miền Trường Châu của đế tử; tìm được quán cũ của người tiên.
Núi non cao biếc, nhô khỏi lớp mây; bóng gác bay, màu son chày, dưới không sát đất.
Bến hạc, bãi phù quanh co đến tận đảo cồn; điện quế, cung lan bày ra cái thể thế của núi non.
Mở rộng cửa tô; cúi xem cột chạm.
Đồng núi trông rộng khắp; sông đầm nhìn hãi kinh.
Cửa ngõ giăng mặt đất, đó là những nhà rung chuông, bày vạc.
Thuyền bè chật bến sông, trục vẽ chim sẻ xanh, rồng vàng.
Cầu vồng tan, cơn mưa tạnh; vẻ rực sáng, suốt đường mây.
Ráng chiều rơi xuống, cùng cái cò đơn chiếc đều bay; làn nước sông thu với bầu trời kéo dài một sắc.
Thuyền câu hát ban chiều, tiếng vang đến bến Bành Lễ.
Bầy nhạn kinh giá rét, tiếng kêu dứt bờ Hành Dương.
Khúc ngâm xa xôi sảng khoái; hứng thú phiêu dật bay nhanh.
Tiếng vui phát sinh, gió mát nổi dậy; ca nhẹ lắng chìm, mây trắng lưu lại.
Tre lục vườn Kỳ, khí lan chén rượu Bành Trạch.
Sắc đỏ sông Nghiệp, ánh soi ngọn bút Lâm Xuyên.
Sẵn bốn điều hay; đủ hai bậc tốt.
Ngắm trông khắp cả khoảng trời; vui chơi hết ngày nhàn rỗi.
Trời cao, đất xa, biết vũ trụ rộng vô cùng.
Hứng hết, buồn về, hiểu đầy vơi là có số.
Trông Trường An dưới mặt trời; trỏ Ngô Hội trong khoảng mây.
Thế đất tận cùng, biển Nam sâu thẳm; cột trời cao ngất, sao Bắc xa xôi.
Quan san khó vượt, nào ai sót thương người lạc lối ?
Bèo nước gặp nhau, hết thảy đều là khách tha hương.
Tưởng nhớ chốn cửa vua, không trông thấy được; phụng chiếu nơi Tuyên Thất, chẳng biết năm nào.
Than ôi!
Thời vận chẳng bình thường; đường đời nhiều ngang trái.
Phùng Đường dễ thành già cả; Lý Quảng khó được phong hầu.
Giả Nghị bị khuất nơi Trường Sa, chẳng phải không vua hiền thánh.
Lương Hồng phái náu miền Hải Khúc, đâu có thiếu thời quang minh.
Nhờ được: người quân tử vui cảnh nghèo; bậc đạt nhân biết rõ mệnh.
Tuổi già càng phải mạnh hơn, nên hiểu lòng ông đầu bạc.
Lúc cùng hãy nên thêm vững, không rớt chí đường mây xanh.
Uống nước suối Tham, lòng vẫn sáng; ở nơi cùng khổ, bụng còn vui.
Biển bắc tuy xa xôi, nhưng cưỡi gió có thể đi tới.
Đã để trôi qua lúc mặt trời mọc ở phương đông, nhưng khi bóng lặn khóm tang du, phải đâu đã muộn.
Mạnh Thường thanh cao, vẫn mang tấm lòng báo quốc.
Nguyễn Tịch rồ dại, há bắt chước tiếng khóc đường cùng.
Bột này là đứa nhỏ cao ba thước, một gã học trò.
Không có đường xin dải dây dài, như tuổi niên thiếu của Chung Quân.
Nhưng có hoài bão vứt cây bút, yêu mến cơn gió dài của Tông Xác.
Bỏ rơi trâm hốt ở trăm năm; theo việc thần hôn ngoài vạn dặm.
Tuy không phải là cây báu nhà họ Tạ; nhưng được ở gần hàng xóm tốt của họ Mạnh.
Ngày sau, tôi sẽ rảo bước trước sân, lạm phụ thêm lời đối đáp của ông Lý.
Sớm nay, nâng tay áo, vui mừng được gửi gắm họ tên tại cổng rồng.
Không còn được gặp Dương Ý, nên đọc thiên lăng vân mà tự tiếc.
Nhưng đã gặp Chung Kỳ, thì tấu khúc lưu thuỷ có hổ thẹn gì.
Than ôi!
Chốn danh thắng chẳng thường tồn tại; bữa tiệc lớn khó gặp hai lần.
Lan Đình còn đâu nữa, Tử Trạch thành gò hoang.
Hân hạnh được thừa ân Diêm công trong bữa tiệc vĩ đại này, tôi viết lời tặng khi lâm biệt.
Còn như lên cao làm phú, đó là việc mong mỏi nơi các ông.
Xin dốc lòng thành quê kệch; cung kính làm bài tự ngắn.
Trước ngỏ một lời, sau bày tình ý; đồng thời bốn vận đều xong.
Mời rảy nước sông Phan, cùng làm cho nghiêng mây trong đất liền lẫn mây ngoài biển vậy.
Bên sông, đây gác Đằng Vương.
Múa ca đã tắt, ngọc vàng nào ai ?
Cột rồng Nam Phố mây bay.
Rèm châu mưa cuốn ngàn Tây, sớm chiều.
In đầm, mây vẩn vơ trôi.
Tang thương vật đổi, sao dời mấy thâu.
Đằng vương trong gác giờ đâu ?
Trường Giang nước vẫn chảy mau mé ngoài.
****
Dịch nghĩa :
* Con vua Đường Cao Tổ là Nguyên Anh được phong là Đằng Vương, xây cất gác này khi nhận chức thứ sử tại Hồng Châu. Năm Hàm Thuần thứ hai, thứ sử Hồng Châu là Diêm Bá Tự mở đại yến ở đây, sai con rể là Ngô Tử Chương chuẩn bị trước một bài tự để mang ra khoe với tân khách. Trong bữa tiệc, họ Diêm sai đem giấy bút ra mời khách làm văn, nhưng không ai dám nhận. Duy có Vương Bột không từ chối. Họ Diêm sai người ngó bài của Vương Bột. Khi được nghe đến câu "Lạc hà dữ cô vụ tề phi" thì thán phục, khen là thiên tài, bèn thỉnh cầu Vương Bột tiếp tục hoàn thành bài tự.
Nay là phủ Nam Xương, tỉnh Giang Tây.
Tức Nam Xương. Vì nhà Tuỳ đặt Hồng Châu tại đây, nên có tên này.
Hai ngôi sao thuộc địa phận nước Sở. Đất Sở và Nam Xương xa cách nhau, nên dùng các tiếng này để nói sự xa xôi.
Tên hai ngọn núi. Hành Sơn ở phía tây nam, Lư Sơn ở phía bắc Nam Xương.
Ba con sông: Kinh Giang, Tùng Giang, Chiết Giang.
Năm hồ: Thái, Phan Dương, Thanh Thảo, Đan Dương, Động Đình.
Vì đất Kinh Sở thuộc về khu vực nam man, nên gọi là Man Kinh.
Tại Tào thành, có hai thanh kiếm tên là Can Tương và Mạc Gia. Đây nói ánh sáng của vằn con rồng khắc trên hai thanh kiếm đó.
Từ Trĩ người đất Dự Châu, đời Hán, là bậc cao sĩ đất Hồng Châu. Trần Phồn là thái thú đất Dự Chương. Trần Phồn có cái giường chỉ dành riêng tiếp đón Từ Trĩ, khi Từ Trĩ đi lại treo giường lên.
Một quận lớn.
Tức đất Kinh Sở và miền Trung Hạ.
Do thành ngữ "Đông kim, nam tiễn chi mỹ": vẻ đẹp của vàng phương đông, tên miền bắc.
Còn gọi là khải kích, cái kích có bọc lụa đỏ hay đen. Thời xưa khi các quan xuất hành, thường có các khải kích đi đằng trước.
Tức Vũ Văn Quân, vừa nhậm chức mục tại Phong Châu, nhân đi qua đây, có dự tiệc tại Đằng Vương các.
Ví với tài hoa của người.
Ví với tiết tháo của người.
Tức Mạnh Tuyền, một vị khách hữu danh trong bữa tiệc.
Không biết rõ tên.
Thời xưa, những nhà giàu sang thường bày đỉnh mà ăn và đánh chuông trong bữa ăn.
Tức là phố Phàn Dương.
Phía nam núi Hành Sơn, có ngọn tên là Hồi Nhạn Phong, những con chim nhạn không bay qua nổi ngọn núi này.
Tên đất thuộc tỉnh Hồ Bắc. Miền này có loại trúc đẹp, ví với cái đức của người quân tử.
Khi làm quan lệnh tại huyện Bành Trạch, Đào Tiềm thường bày tiệc rượu đãi khách.
Nghiệp thuỷ là nơi khởi nghiệp của họ Tào. Thơ Tào Thực có câu "Châu hoa mạo lục trì" (sắc đỏ phủ lên ao màu lục).
Vương Hy Chi đời Tấn có tài viết chữ, từng làm chức nội sử tại Lâm Xuyên.
Tức là lương thần, mỹ cảnh, thưởng tâm, lạc sự (trời tốt, cảnh đẹp, lòng mừng, việc vui).
Chỉ chủ và khách đều là người tốt.
Tức là thành huyện Ngô, tỉnh Giang Tô.
Theo Thần dị kinh, ở núi Côn Luân có cột đồng rất cao, nên gọi là cột trời.
Tức là chính điện của cung Vị Ương đời Hán, nơi Giả Nghị phụng chiếu trả lời về vấn đề nguồn gốc quỷ thần.
Người đất An Lâm, làm chức xa kỵ đô uý đời Hán Văn Đế.
Là một danh tướng đời Hán Võ Đế, nhưng không được phong hầu.
Người đời Hán Văn Đế, bị dèm pha, phái trích ra làm thái phó tại Trường Sa.
Người đời Nguỵ, lấy làm hổ thẹn vì phải tôn thờ những người quyền quý, nên trốn sang ẩn náu tại miền Hải Khúc thuộc nước Đông Ngô.
Cách Quảng Châu hai chục dặm, có một cái suối tên là Tham tuyền (suối tham). Các cố lão nói rằng nếu uống nước suối đó thì người liêm cũng thành ra tham. Đời Tấn, Ngô Ẩn làm thứ sử Quảng Châu, có thơ như sau: "Cổ nhân ngôn thử thuỷ, Nhất sáp hoài thiên kim. Thí sử Di Tề ẩm, Chung dương bất tịch tâm" (Người đời xưa nói rằng dòng nước này, uống một lần thì nghĩ đến ngàn vàng, giả sử các ông Bá Di, Thúc Tề có uống, rốt cuộc cũng không thay đổi lòng).
Dấu bánh xe khô cạn, ví với cảnh khốn cùng.
Làn gió mạnh thổi từ dưới lên trên.
Mạnh Thường tự là Bá Chu. Đời Hán Thuận Đế, làm chức thái thú tại Hợp Phố, tính tình rất cao khiết.
Người đời Tấn, phóng đãng, thích uống rượu.
Năm 22 tuổi, Chung Quân xin vua Hán ban cho dải dây dài để đi trói Nam Việt Vương đem về.
Người thời Nam Bắc triều, tự là Nguyên Cán. Lúc nhỏ người chú hỏi chí của Xác, Xác trả lời rằng "Nguyện thừa trường phong phá vạn lý lãng" (Muốn cưỡi cơn gió dài đẻ phá làn sóng muôn dặm).
Trâm và hốt là đồ dùng của các quan.
Tạ Nguyên được chú là An quý trọng. Nguyên nói rằng: "Ví như những cây ngọ chi lan, nên để cho mọc tại bậc thềm sàn". Người đời sau dùng câu này để nói về các con em tốt.
Bà Mạnh mẫu ba lần dời nhà để chọn hàng xóm tốt cho con là Mạnh Tử.
Sách Luận ngữ chép rằng: "Ông Lý (Ba Ngư) khi đi qua sân, có trả lời đức Khổng Tử về việc học Kinh thi, Kinh lễ". Ông Lý là con của Khổng Tử.
Lý Ưng là một bậc cao sĩ đời Hán. Những người được Lý Ưng tiếp, cho là được hân hạnh đến cổng rồng.
Tức Dương Đắc Ý, người tiến cử Tư mã Tương Như lên vua Hán Võ Đế.
Tên bài phú do Tư mã Tương Như làm ra.
Người nước Sở, thời Xuân Thu, giỏi thẩm định tiếng đàn.
Bá Nha gảy đàn, để chí vào dòng nước chảy. Chung Kỳ nói rằng: "Tiếng đàn dâng cao như nước sông".
Đình này ở phía tây nam huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, là nơi Vương Hy Chi đời Tấn thường hội họp bạn bè.
Tức là vườn Kim Cốc, nơi có quán rượu Thạch Sùng đời Tấn.
Tên đất, ở phía tây nam huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây.
Tên núi, còn có tên là Nam Xương Sơn, thuộc tỉnh Giang Tây.
Nguồn:
Hán văn-Trần Trọng San
Hang Nga @ 16:13 10/05/2011
Số lượt xem: 1343
- 歸去來辭 - Quy Khứ Lai Từ (Ðào Tiềm) (10/05/11)
- 桃花源記 - ĐÀO HOA NGUYÊN KÝ (10/05/11)
- 題菊花 Đề cúc hoa - Hoàng Sào (25/08/10)
- Hạ nhật sơn trung (20/08/10)
- Anh Vũ châu - Lý Bạch (20/08/10)


Các ý kiến mới nhất