Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.
MỞ BÀI ĐỐI VỚI 12 TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGŨ VĂN 12
12A9K39 CHÚ Ý THAM KHẢO 12 MỞ BÀI CHO 12 TÁC PHẨM VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12.
MỞ BÀI HAY ĐỐI VỚI CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
1- Mở bài Tuyên ngôn độc lập
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc ta phải đương đầu với đủ loại ngoại xâm: Từ Bắc xuống, từ Nam lên, tứ Tây sang, từ Đông vào cho nên cùng với những chiến công hiển hách: phá Tống, bình Nguyên, diệt Minh, đuổi Thanh; nền văn học chúng ta cũng đã có những áng văn kiệt tác khẳng định đanh thép chủ quyền độc lập của dân tộc. Bên cạnh bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt sang sảng ngâm trên sông Như Nguyệt, Bình Ngô đại cáo một thiên cổ hùng văn của Nguyễn Trãi, ngày nay chúng ta có Tuyến ngôn Độc lập y một áng văn chính luận mẫu mực, tinh hoa của dân tộc, khí phách của non sông, nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. .( dẫn dắt nêu vấn đề nghị luận. Hoặc trích đoạn văn cần phân tích )
2- Mở bài Tây tiến ( Quang Dũng)
Ai đã từng đi qua một thời trận mạc chắc hẳn trong lòng thường lưu giữ những kỉ niệm khó quên. Quang Dũng- một thi sĩ đa tài trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, cũng vậy, những năm tháng gắn bó với binh đoàn Tây tiến đã để lại ấn tượng không thể phai mờ trong trái tim ông. Nỗi nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội , nhớ núi rừng thôi thúc ông viết Tây tiến – bài thơ với những vần thơ đậm chất anh hùng ca bay lên từ hiện thực tàn khốc của cuộc kháng chiến chống Pháp . Bài thơ ra đời năm 1948 tại Phù Lưu Chanh sau khi Quang Dũng đã rời xa đoàn quân Tây tiến chuyển sang đơn vị khác. Bài thơ được in trong tập “ Mây đầu ô” (1978).... ( dẫn dắt đến yêu cầu của đề)
3- Mở bài Việt Bắc ( Tố Hữu)
Tố Hữu- nhà thơ lớn của thế kỷ XX, đã từng nói : “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy”, chính những niềm thương, nỗi nhớ trào dâng ấy đã tạo ra những rung động mãnh liệt trong cảm xúc để rồi thơ ca đã trào ra bao nỗi nhớ thương vô vàn. Việt Bắc chính là những rung động mạnh liệt ấy của Tố Hữu. Bài thơ là kết tinh, là di sản của “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc. Tác phẩm là một khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bài thơ được viết ra như lời hát tâm tình của một mối tình thiết tha đầy lưu luyến giữa người kháng chiến và đồng bào Việt Bắc được thể hiện qua lăng kính trữ tình – chính trị, đậm tính dân tộc và ngòi bút dạt dào cảm xúc của thi nhân.... ( dẫn dắt vào yêu cầu của đề bài)
4- Mở bài cho Đất Nước ( Nguyễn Khoa Điềm)
Nhắc đến lối thơ trữ tình chính luận ta không thể không nhắc đến Nguyễn Khoa Điềm- một nhà thơ xuất sắc của nền thơ ca hiện đại trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhà thơ đã từng giữ những cương vị quan trọng trong bộ máy nhà nước của nước Việt Nạm. “Mặt đường khát vọng” được viết năm 1971 là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Trong đó chương V là chương trung tâm kết nối mạch ngầm của văn bản bằng hình tượng nghệ thuật trung tâm là Đất Nước. Nhận xét về chương này có ý kiến cho rằng: “Tác giả đã phát biểu tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân, ĐN của ca dao thần thoại” và tư tưởng ấy đã chi phối cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bản trường ca”….. ( dẫn dắt vào yêu cầu của đề)
5- Mở bài cho Sóng ( Xuân Quỳnh)
Từ xa xưa, tình yêu luôn là điều bí ẩn đối với con người. Có lẽ cũng vì thế mà mỗi nhà thơ đều có cách lí giải và cảm nhận riêng về tình yêu. Ta bắt gặp một Xuân Diệu say đắm, nồng nàn, khao khát được yêu đương mãnh liệt, một Nguyễn Bính chân chất của tình yêu đồng nội, gần gũi với thôn quê. Và có lẽ chắc chắn người đọc sẽ không quên được Xuân Quỳnh với nhiều trạng thái cảm xúc vừa gần gũi, giản dị, vừa ồn ào, mãnh liệt. Bài thơ “sóng” là tiếng lòng chân chất, mộc mạc và cũng đầy những bất an về tình yêu đôi lứa, nhưng trên hết vẫn là trái tim hồn hậu thiết tha của người phụ nữ … ( dẫn dắt vào yêu cầu của đề)
6- Mở bài Người lái đò Sông Đà ( Nguyễn Tuân)
Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Những tác phẩm của ông viết bằng cái “ngông” cái tài và băng tình yêu tha thiết đối với con người và đất nước Việt Nam. “Người lái đò sông Đà” là bài tùy bút lấy cảm hứng từ chuyến đi thực tế miền Tây Bắc của nhà văn. Hình ảnh con sông Đà được nhìn qua lăng kính tâm hồn nghệ sỹ với nhiều vẻ đẹp khác nhau mang lại ấn tượng độc đáo đối với người đọc. Nguyễn Tuân đã rất thành công khi xây dựng hình tượng người lái đò trên Sông Đà với tay lái ra hoa xứng đáng là chất vàng mười của Tây Bắc( dẫn dắt vào yêu cầu của đề)
7- Mở bài Ai đã đặt tên cho dòng sông ( Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Ai đó đã từng viết “Đất nước có nhiều dòng sông nhưng chỉ có một dòng sông để thương, để nhớ như đời người có nhiều cuộc tình nhưng chỉ có một cuộc tình để mãi mãi mang theo”. Vâng, “một dòng sông để thương, để nhớ” của mỗi người rất khác nhau. Nếu tên tuổi Văn Cao gắn liền với sông Lô hùng tráng; nếu Hoàng Cầm là nỗi nhớ của ta khi ngang qua “Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh”; nếu Hoài Vũ mãi là nhà thơ của con sông Vàm Cỏ đêm ngày thao thiết chở phù sa, thì Hoàng Phủ Ngọc Tường- nhà văn với phong cách tài hoa, đa tình của xứ Huế, đã song hành cùng sông Hương đi vào trái tim người đọc với bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Với sở trường về bút ký và đặc sắc trong sáng tác là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lý, nhà văn đã đem đến cho người đọc những vẻ đẹp đa dạng về con sông Hương….( dẫn dắt vào yêu cầu của đề)
8- Mở bài Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài)
Nói về việc sáng tác “Truyện Tây Bắc” (19520 , Tô Hoài – nhà văn trưởng thành từ kháng chiến chống Pháp, có số lượng sang tác kỷ lục ở Việt Nam, cho biết, “ngoài tài liệu và trên cả sáng tạo”, ông đã đưa vào trong tác phẩm của mình “những ý thơ”: “Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng lên hơn, rời bỏ được cái ám ảnh tủn mủn, lặt vặt thường làm co quắp nhân vật, nhỏ bé vấn đề và khung cảnh đi”. Thật vậy, cụ thể trong “Vợ chồng A Phủ”, ta bắt gặp một trong những nét đặc sắc nhất của Tô Hoài là biệt tài phát hiện và chuyển tải chất thơ trong cuộc sống bình dị vào trang viết. Chất thơ man mác bao phủ bầu không khí của tác phẩm là sự cộng hưởng hiệu ứng của nhiều thủ pháp nghệ thuật, ánh lên từ tình huống truyện đầy nhân văn, từ ngôn ngữ hàm súc và giọng điệu trần thuật giàu tính nhạc. Để rồi từ đó, hiện lên trong tác phẩm bàng bạc chất thơ này là thiên nhiên, là lối sống, là phong tục và tâm hồn con người không lẫn vào đâu được. Có ai đó đã từng nhận xét: suy cho cùng thì ý nghĩa thực sự của văn học là góp phần nhân đạo hoá con người. Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của con người, do con người làm ra để đáp ứng nhu cầu của nó. Vì vậy tác phẩm văn học chỉ thực sự có giá trị khi nó lên tiếng vì con người, ca ngợi và bảo vệ con người. Với ý nghĩa đó một tác phẩm lớn trước hết phải là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc. Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài là một tác phẩm như thế. ( dẫn dắt vào yêu cầu của đề)
9- Mở bài Vợ nhặt ( Kim Lân)
Kim Lân là một nhà văn hiện thực, có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với “thuần hậu phong thủy”. Ông rất thành công về đề tài nông thôn và người nông dân mà ông rất am hiểu cảnh ngộ và tâm lý của họ. Vốn tiền thân là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” nhưng do chiến tranh thất lạc bản thảo nên khi hòa bình lập lại (1954), nỗi trăn trở tiếp tục thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng, truyện ngắn “Vợ nhặt” (1954) đã ra đời. Trong lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lý thật bất ngờ.
10- Mở bài Rừng xà nu ( Nguyễn Trung Thành)
Nguyễn Trung Thành là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, cũng là nhà văn của vùng đất Tây Nguyên. Trong cả hai cuộc kháng chiến, ông đều gắn bó với vùng đất này, hiểu biết về cuộc sống cũng như tinh thần của nhân dân các dân tộc thiểu số, nên có những trang viết rất hay về đất và người Tây Nguyên. Ông là nhà văn có công đưa mảnh đất Tây Nguyên hoang sơ đến với văn học hiện đại Việt Nam. Viết về đề tài Tây Nguyên, ông trở nên bất tử với truyện ngắn Rừng xà nu (1965). Trong tác phẩm, nhà văn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Tnú, người con kết tinh mọi vẻ đẹp của nhân dân Tây Nguyên trên nền tập thể nhân dân anh hùng và hình tượng rừng xà nu hùng vĩ trong những ngày kháng chiến chống Mĩ gay go, ác liệt. ( dẫn dắt vào yêu cầu của đề)
11- Mở bài Chiếc thuyền ngoài xa ( Nguyễn Minh Châu)
Nguyễn Minh Châu là người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật, thao thiết kiếm tìm “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người.” Trước 1975, Nguyễn Minh Châu được biết đến với những tác phẩm đậm chất sử thi như: Cửa sông, Miền cháy, Dấu chân người lính. Thế nhưng, sau 1975, chính Nguyễn Minh Châu lại là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Chiếc thuyền ngoài xa được in năm 1983 là một bước tiến dài rất đáng trân trọng trong hành trình khám phá vào tầng chìm, vào chiều sâu của cuộc sống và con người của văn xuôi Nguyễn Minh Châu.( dẫn dắt vào yêu cầu của đề)
12- Mở bài Hồn trương ba da hàng thịt ( Lưu Quang Vũ)
Lưu Quang Vũ – một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX. Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch được Lưu Quang Vũ viết năm 1981, công diễn lần đầu tiên năm 1984, sau đó được diễn lại nhiều lần trong và ngoài nước. Từ cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lại thành một vở kịch nói hiện đại và lồng vào đó nhiều triết lí nhân văn về cuộc đời và con người.Hồn Trương Ba da hàng thịt không chỉ có ý nghĩa triết lí về nhân sinh, về hạnh phúc con người trong vở kịch nói chung và đoạn kết nói riêng, Lưu Quang Vũ muốn góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ. Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề cũng không kém phần bức xúc, đó là tình trạng con người phải sống giả, không dám và cũng không được sống là bản thân mình. Đấy là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi. ( dẫn dắt vào yêu cầu của đề)
Hang Nga @ 21:13 09/04/2019
Số lượt xem: 1005
- So sánh sự tha hóa của Chí Phèo và của Hồn Trương Ba (06/05/18)
- so sánh cái nhìn nghệ thuật của nghệ sĩ Phùng và của Vũ Như Tô trong vở kịch " Vĩnh Biệt Cửu trùng đài" (06/05/18)
- NHẬN DẠY LUYỆN THI (04/05/14)
- Vấn đề luyên thi ĐH thứ 3: Nguyễn Tuân và truyện ngắn " Chũ người tử tù" (17/01/14)
- VẤN ĐỀ LUYỆN THI SỐ 23: VỞ KỊCH " HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT" CỦA LƯU QUANG VŨ VÀ VỞ BI KỊCH "VŨ NHƯ TÔ" CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG (24/06/13)


Các ý kiến mới nhất