Bây giờ là...

Hằng Nga mến chào

3 khách và 0 thành viên

Tài nguyên Website

Tiện ích My Blog

-*GOOGLE THÔNG MINH*-

-*-*-TỪ ĐIỀN QUỐC TẾ-*-*-


Tra theo từ điển:

Liên hệ trực tuyến

  • (Nguyễn Thị Hằng Nga)

ĐIỂM TIN GIÁO DỤC

Ảnh ngẫu nhiên

Happy_new_year.swf 0.Video017.flv _Gui_song_The_Hien.swf BUON_02.swf Xuanson062000__hoa_tim_nguoi.swf Em_oi_ha_noi.swf Ongdochungtuluu.swf Bechuctet.swf Tamsunangxuan.swf Madaothanhcong.swf CUUNON_CHUC_TET.swf Doi_dieu.swf Anhchoemmuaxuan03.swf Images_22.jpg Diendanhaiduongcom20012m.jpg Diendanhaiduongcom19072.jpg Images29.jpg Diendanhaiduongcom19072_13.jpg IMG_00412.jpg Dao_truong_sa.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > VĂN HỌC VÀ NHÀ TRƯỜNG >

    Người lái đò Sông Đà

     Nguồn hoahoc.org

    “Chúng thủy giai đông tẩu

    Đà giang độc bắc lưu”

    Nguyễn Tuân


    Phần 1: NGUYỄN TUÂN (1910-1987): CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

    A. KIẾN THỨC CƠ BẢN

    I. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
    1/ Cuộc đời:
    - Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 tại phố Hàng Bạc (Hà Nội) trong một gia đình nhà nho tài hoa.
    - Thân sinh: Cụ Nguyễn An Lan (còn gọi là ông Tú Hải Văn) đỗ khoa thi Hán học cuối cùng rồi đi làm viên chức nhỏ ở toà sứ các tỉnh dưới chế độ thuộc địa bất đắc dĩ. Cụ cùng gia đình đã sống nhiều ở các tỉnh miền Trung: Khánh Hòa, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Huế, Hà Tĩnh, nhất là Thanh Hóa.
    - Thuở nhỏ, bắt đầu đi học Nguyễn Tuân học chữ Pháp. Khi học đến bậc trung học ở Nam Định, ông tham gia bãi khóa và bị đuổi học (năm 1929).
    - Vào làng văn khá sớm và ông sống hẳn với ngòi bút từ năm 1937 (thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương và phong trào đấu tranh công nông do Đảng lãnh đạo) cho đến khi ông mất ngày 28 tháng 7 năm 1987 tại Hà Nội, sau một cơn đau tim đột ngột.

    2/ Sự nghiệp sáng tác:
    a) Trước cách mạng tháng Tám:
    - Là cây bút tiêu biểu cho làng văn xuôi lãng mạn thời kỳ phát triển cuối cùng.
    - Tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời (1940); Tuỳ bút I (1941); Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Một chuyến đi (1941); Tóc chị Hoài (1943); Tuỳ bút II (1943)…

    b) Sau cách mạng tháng Tám:
    - Nguyễn Tuân đã sống những ngày đổi đời của dân tộc nên cũng như nhiều nhà văn khác, ông đã quyết tâm “lột xác” hòa mình vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân.
    - Năm 1946, chuyến đi đầu tiên của ông trong cuộc đời mới là tham gia đoàn sáng tác văn nghệ đi vào mặt trận Nam Trung bộ đánh Pháp.
    - Năm 1948 lên đường ra Việt Bắc dự Đại hội văn hóa và Hội nghị văn nghệ toàn quốc. Ông được bầu làm Tổng thư ký đầu tiên của Hội Văn Nghệ Việt Nam.
    - Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã dự nhiều chiến dịch với bộ đội ở Tây Bắc, Đông Bắc, vào vùng sâu địch hậu Bắc Ninh để viết về du kích chống càn.
    - Tác phẩm tiêu biểu: Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950); Tùy bút kháng chiến (1955)…
    - Trong kháng chiến chống Mĩ, ông đã đặt chân đến nhiều nơi tuyến lửa: Vĩnh Linh, cầu Hiền Lương, Quảng Bình… ngược sông Đà hiểm trở và ngang dọc khắp các miền Than Uyên, Quỳnh Nhai, Sơn La… để liên tiếp cho ra đời những bài tùy bút, bút ký nóng hổi tính thời sự và mang dấu ấn nghệ thuật độc đáo.
    - Tác phẩm chính: Sông Đà (1960); Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972); Kí (1976)…

    II. Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân:
    Là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân được chú ý đặc biệt về phong cách nghệ thuật. Tính độc đáo của phong cách đó được thể hiện qua nhiều phương diện:

    1/ Khi sáng tác, Nguyễn Tuân hết sức nghiêm khắc với chính mình để có những trang văn thực sự có tính nghệ thuật mới mẻ, mang dấu ấn sáng tạo riêng. Ông luôn kiên trì quan điểm: đã gọi là văn thì trước hết phải là văn. Vì thế cách đặt câu, dựng đoạn của ông thường rất công phu, cũng như kho từ vựng của ông rất phong phú.

    2/ Nét nổi bật khác trong phong cách Nguyễn Tuân là chất tài hoa tài tử.
    Trước cách mạng, nhiều lần ông tuyên bố bênh vực quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của mình, ông luôn thể hiện niềm tự hào dân tộc sâu sắc, sự tôn trọng, khâm phục những giá trị văn hoá cổ truyền của quê hương.
    Tuy vậy, đôi lúc quá đà, chất tài hoa tài tử đó lại mang tính khoa trương, cường điệu (Chiếc lư đồng mắt cua).

    3/ Văn NguyễnTuân còn khác người ở tính uyên bác, ở bề rộng và chiều sâu văn hoá. Đó là kết quả của việc ông tích luỹ tiềm lực tri thức trong suốt nửa thế kỷ sáng tạo nghệ thuật.
    Đôi khi ông quá mê mải, sa đà vào khối lượng tri thức đó nên một số đoạn văn có phần nặng nề, khô khan, tạo cho người đọc cảm giác mệt mỏi (Tuỳ bút “Sông Đà”).

    III. Tập tuỳ bút “Sông Đà”
    Đây là tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn sáng tác sau Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Tuân. “Nó nói rằng ngòi bút ấy đã đạt tới độ chín mới về tư tưởng và nghệ thuật”.
    (Nguyễn Đăng Mạnh)
    “…Đọc “Sông Đà” thấy Tổ quốc ta thật là giàu đẹp. Chỉ nói riêng Than Uyên có nào mỏ xi măng thiên tạo, mỏ thạch anh làm thuỷ tinh ngũ sắc và đồ sứ, mỏ than mở, mỏ lân tinh, mỏ đồng, mỏ chì…Cảnh Tây Bắc thì tuyệt đẹp, ở đâu tác giả cũng nổi hứng nghệ sĩ muốn cắm ngay giá vẽ mà vẽ. Núi lớp lớp mênh mông như biển, sông trắng xoá như từng súc lụa tung trải ra, những thung lũng lúa chín vàng choé lên, trên đó mây trắng điểm lơ lửng như thêu nổi v.v…
    Nhưng “Sông Đà” không chỉ nói vẻ đẹp thiên nhiên mà còn đi tìm vẻ đẹp của lòng người. Ông gọi đó là chất vàng mười của tâm hồn con người Tây Bắc. Ông ngược dòng lịch sử tìm chất vàng đó ở những chiến sĩ cách mạng kiên cường đã theo gương bất khuất ở nhà tù Sơn La, ở những cán bộ hoạt động bí mật hồi Tây Bắc bị giặc chiếm đóng, đã vượt qua những thử thách khủng khiếp để gây cơ sở cách mạng, ở những chiến sĩ quân đội, những anh chị em dân công hồn tiến quân vào Điện Biên…”
    (Nguyễn Đăng Mạnh – “Sông Đà”
    Trích “Nhà văn Tư tưởng và phong cách”
    NXB Văn học – 1983)


    Phần 2: TÁC PHẨM NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ - Nguyễn Tuân

    A. KIẾN THỨC CƠ BẢN
    Viết về sông Đà, Nguyễn Tuân không miêu tả một con sông theo lối văn tả cảnh thuần tuý mà đó là một nhân vật hoạt động, có tính cách tâm trạng rất phức tạp như con người. Nhà văn đã cho ta thấy hai tính cách cơ bản đó là “Con sông Tây Bắc hung bạo và trữ
    tình”. Tuy nhiên để dựng nên, để hiểu được tính nết của nhân “vật” thiên nhiên này, Nguyễn Tuân đã vận dụng rất nhiều các loại tri thức khác nhau như lịch sử, địa lí, quân sự , võ thuật, hội hoạ, điêu khắc, điện ảnh, thơ Đường, thơ Tản Đà,… để quan sát, mô tả hiện thực bằng nét bút tài hoa của mình.


    1/ a) Sông Đà là một “Nhân vật có tính cách hung bạo” .

    - Dòng sông rất dữ dội (bờ đá dựng vách thành, chẹt lòng sông Đà khiến nó hẹp lại, dòng sông như một cái hang, tối, sâu và lạnh). Tri thức điện ảnh trong việc mô tả hình ảnh có quan tâm tới mảng sáng tối từ mặt đất nhìn lên, từ một góc độ chếch ở cao nhìn xuống. Nó gây cảm giác mạnh: hơi lạnh, bóng tối, độ cao hun hút đến chóng mặt…
    - Con sông luôn hung hăng, ưa gây sự. Nó luôn chờ đợi người lái đò sông Đà để giáng tai họa vào cho họ.
    (“Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió…”)
    Những động từ mạnh, lặp lại và ken ken đặc nói đến sự tiếp diễn của hành động “xô” được diễn ra trên một không gian dài như con sông và hành động đó dữ dội không chỉ ở trong lòng mà cả trên mặt sông (“Cuồn cuộn luồng gió gùn ghe…).
    - Tính cách hung bạo của sông Đà được biểu diễn dữ dội ở những dòng thác “lao dòng” chặn đánh người lái đò.
    Con sông Đà “thành ra diện mạo và tâm địa của một thứ kẻ thù số một”. Nó hiện lên như một loài thủy quái khổng lồ vừa nham hiểm và hung dữ, vừa khôn ngoan và mưu trí. Lúc thì ẩn nấp mai phục, lừa đánh đòn du kích, khi thì vòng lại đánh kiểu vu hồi, khi thì xông xáo liều mạng, tổng tấn công tới tấp ồ ạt khắp bốn mặt. Và thật nham hiểm khi nó biết kết hợp đánh người lái đò cả trên mặt trận ngoại giao; khi thì oán trách van xin, khi thì “khiêu khích, giọng gằn và chế nhạo”, khi thì “rống lên trong tất cả bấy nhiêu cái luồng giận dữ”, “reo như đun sôi”, “muốn hất tung đi một cái thuyền”. Khi thì hò la, gầm thét vang động núi rừng “Mặt nước hò reo la vang dậy “ùa vào” như thể “quân liều mạng”, “đánh những đòn hiểm độc nhất”.
    Quả thật con sông như một sinh thể thật sự. Trí tưởng tượng tạo hình của tác giả quan sát rất kỹ lưỡng và chính xác, tác giả cung cấp những kiến thức rất phong phú và không tùy tiện, đồng thời sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, sinh động.


    b) Sông Đà là một “nhân vật” có tính cách trữ tình:

    - Tác giả hình dung nó như một người đàn bà kiều diễm.
    + “Sông Đà như một áng tóc mun dài ngàn ngàn vạn vạn sải”.
    + “Sông Đà luôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”…
    + Sông Đà có “luồng em” “đằm dịu” muôn đời êm “sông nước thanh bình”.
    - Sông Đà được nhìn qua làn mây mùa xuân, ánh nắng mùa thu. Tác giả theo dõi những biến của màu sắc. Khi “lừ lừ chín đỏ” khi “dòng xanh ngọc bích”.
    - Sông Đà thật mĩ lệ, có thể gợi cảm hứng cho nghệ thuật, gợi cảm xúc riêng biệt cho mỗi người khi tiếp xúc với tính cách trữ tình của nó: Nó có chất Đường thi cổ điển, cái lặng lờ của nó gợi nhớ một quá khứ xa xăm từ thời Lí, Trần, Lê, nó “lửng lờ nhớ thương” và “đang lắng tai nghe” với dáng vẻ rất dịu dàng, ủy mị và thầm kín.
    Con sông ấy gợi nhớ cố nhân, gợi nhớ cái “hoang dại”, “hồn nhiên như một niềm cổ tích tuổi xưa”.
    Đặc biệt hình ảnh con nai ngơ ngác như nghe thấy một tiếng còi sương… đó là một âm thanh vẳng đưa trong tưởng tượng đã gợi cái tĩnh lặng hoang dã của sông Đà. Thật là một liên tưởng tạt ngang rất độc đáo và thú vị.

    2/ Nhân vật người lái đò Sông Đà:
    - Nhân vật người lái đò được Nguyễn Tuân nhìn như là đối tượng của cái Đẹp. Nó lấp lánh ánh sáng của người tài hoa nghệ sĩ. Theo Nguyễn Tuân, không cứ gì cứ là người hoạt động ở các ngành nghệ thuật họ mới là kẻ tài hoa nghệ sĩ. Mà những con người xung quanh chúng ta biết tôn trọng cái Đẹp đều có thể ứng xử Đẹp và tự giác sáng tạo ra cái Đẹp. Những người uống trà trong sương sớm, những kẻ biết thưởng thức “hương cuội”… đều là những nghệ sĩ tài hoa. Và do vậy “Người lái đò sông Đà “là người lái đò – nghệ sĩ”. Chờ đò, lái đò là cả một nghệ thuật cao cường và đầy tài hoa.
    Nghệ thuật ở đây chính là nó đã nhập thân vào người lái đò cả phương diện hình thức lẫn tính cách. “Trên thác hiên ngang một người lái đò sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy nắm được qui luật tất yếu của dòng sông Đà (tr. 154).
    Hình ảnh người lái đò sông Đà được Nguyễn Tuân dựng tượng khiến cho ta như sờ mó được. Bức tượng ấy không phải là con người chung chung mà nó tạo dáng hết sức riêng biệt không thể đặt tên gì khác hơn là “người lái đò sông Đà”. Bức tượng hắt chiếu ra tính cách bên trong của con người này.
    “Tay ông dài lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào… nhỡn giới ông vời vợi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù” (tr. 146)
    - Để làm nổi bật tài nghệ của ông lái đò, Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một cuộc vượt thác của ông như là một viên tướng ngày xưa lao vào một trận đồ bát quái của Khổng Minh với biết bao nhiêu cạm bẫy, hết vòng này đến vòng khác, và mỗi vòng, đá trên thác sông Đà đều có những viên tướng mưu trí và gian thâm chỉ huy.
    Để áp đảo “kẻ địch” dám “quân thác đá” còn nổi trống chiêng la hò dữ dội “Rống lên như ngàn con trâu mộng đang lồng lộn… rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu cháy bùng bùng” (tr. 151)
    Thật là một liên tưởng hết sức bất ngờ. Đây là lối liên tưởng tạt ngang, nối kết hai sự kiện rời nhau dường như chúng không có sự tương đồng. Câu chuyện nói về “nước” lại được liên tưởng với “lửa”. Câu chuyện nói về “đá thác” ở đây là liên tưởng tới “đàn trâu” và “rừng bị cháy”. Nếu không có phong cách tài hoa táo bạo của Nguyễn Tuân khi xử lý những hiện tượng trên sẽ gây ra khập khiễng, phi lôgich. Đoạn văn dựng cảnh đầy giá trị tạo hình, nó như một cuốn phim quay cận cảnh và dựng lại đặc tả các chi tiết (chính Nguyễn Tuân đã có ý định sử dụng vốn văn hóa về môn nghệ thuật thứ bảy này để dựng cảnh, dựng truyện: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim… những thước phim màu cũng quay tít… cái phim ảnh thu được… (tr. 151)
    Ta cũng lưu ý lối thuật kể đầy hồi hộp, đầy kịch tính căng thẳng, vốn tri thức về quân sự và võ thuật được đưa ra ứng dụng. Quả là “ông lái đã nắm chắc được binh pháp của thần sông, thần đá. Ông đã thuộc qui luật phục kích của lũ đá…, Ông đã “cưỡi”lên thác sông Đà: “Nắm chặt lấy cái bờm sóng”, “bám chắc lấy luồng nước” lúc “phóng nhanh” lúc “lái miết”, nhớ mặt bọn đá “đứa thì ông tránh” “đứa thì ông đè xấn lên”…
    Ông lái đò quả là vị tướng đầy thao lược tài ba.
    Ông đang trình diễn nghệ thuật của mình với qui luật thiên nhiên khắc nghiệt. Nếu thiếu một chút bình tĩnh, thiếu một chút chính xác, ông phải trả giá bằng mạng sống của mình.
    Nguyễn Tuân quả là ưa khai thác những cảm giác mạnh để tác động những ấn tượng không phai mờ trong tâm não của độc giả!
    Qua nhân vật người lái đò, Nguyễn Tuân cho rằng chủ nghĩa anh hùng đâu phải tìm kiếm đâu xa lạ. Nó có trong cuộc sống tìm miếng cơm manh áo của nhân dân lao động đấy thôi. Những người bình dị có trí dũng tài ba họ có thể viết nên những thiên anh hùng ca, có thể tạo hình tạc mẫu cho nghệ thuật. Họ là đối tượng của cái đẹp, của ánh sáng thẩm mỹ mới.

    3/ Phong cách Nguyễn Tuân nổi rất rõ trong bài tùy bút đó là:
    a) Cảm hứng đặc biệt đối với những gì gây cảm giác mạnh.
    b) Nhìn cảnh vật con người ở phương diện cái Đẹp.
    c) Đầy ắp những tri thức uyên bác của các ngành.
    d) Viết phóng túng với ngôn ngữ giàu có và điêu luyện.

    - Chúng ta có thể thấy những từ dùng:
    * “Nhỡn giới ông vòi vọi” (tr. 146)
    * “Ông đò… mặt méo bệch đi”… (tr. 152)
    * “Thác… hồng hộc tế …” (tr. 153)
    - Đặc biệt là những liên tưởng độc đáo thông qua so sánh.
    * “Vui như nối lại chiêm bao đứt quãng” (Tr. 155)
    * “Đằm thắm, đầm ấm như gặp được cố nhân” (Tr. 156)
    - Việc sử dụng từ ngữ chính xác điêu luyện.
    Khai thác nước thị uy để đe dọa người lái đò thì Nguyễn Tuân dùng từ “hò la”, “Mặt nước hò la vang dậy” (Tr. 152)
    Khi “Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền” thì “chỉ còn vắng tiếng reo hò của sóng thác nguồn sinh” (tr. 153) chỉ thay có một thành tố “la” và “reo” mà diễn đạt được chính xác điều cần nói!

    Nhắn tin cho tác giả
    Hà Huy Tráng @ 15:14 01/11/2009
    Số lượt xem: 904
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến