Bây giờ là...

Hằng Nga mến chào

3 khách và 0 thành viên

Tài nguyên Website

Tiện ích My Blog

-*GOOGLE THÔNG MINH*-

-*-*-TỪ ĐIỀN QUỐC TẾ-*-*-


Tra theo từ điển:

Liên hệ trực tuyến

  • (Nguyễn Thị Hằng Nga)

ĐIỂM TIN GIÁO DỤC

Ảnh ngẫu nhiên

Happy_new_year.swf 0.Video017.flv _Gui_song_The_Hien.swf BUON_02.swf Xuanson062000__hoa_tim_nguoi.swf Em_oi_ha_noi.swf Ongdochungtuluu.swf Bechuctet.swf Tamsunangxuan.swf Madaothanhcong.swf CUUNON_CHUC_TET.swf Doi_dieu.swf Anhchoemmuaxuan03.swf Images_22.jpg Diendanhaiduongcom20012m.jpg Diendanhaiduongcom19072.jpg Images29.jpg Diendanhaiduongcom19072_13.jpg IMG_00412.jpg Dao_truong_sa.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > HƯỞNG ỨNG ĐỔI MỚI CÁCH RA ĐỀ THI MÔN VĂN >

    NỘI DUNG THƠ NGUYỄN TRÃI

      nguyen_trai_01

    22/09/2007

    Nguyễn Trãi không những là nhân chứng cho những biến động bão táp của lịch sử thế kỷ XV mà còn là người trực tiếp tham gia vào chính những biến động đó. Ngay cả cuộc đời ông cũng là một cuộc đời đầy những bão táp, thăng trầm. Vì vậy, thơ ông thể hiện rõ một vốn sống đã ở độ chín, một suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời đầy phức tạp và một tình cảm nhân hậu đối với thiên nhiên, con người.

    Qua thơ Nguyễn Trãi, ta có thể hiểu thêm rất nhiều điều về con người Nguyễn Trãi với những khát vọng lớn lao và những tâm tư u uất.

    I. TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG TRONG THƠ NGUYỄN TRÃI

    - Ðối với Nguyễn Trãi, quê hương chính là nơi xuất phát của những tình cảm cao đẹp. Thơ ông nói rất nhiều về quê hương bằng một tình cảm thiết tha, lắng đọng.

    Có khi, đó là những hồi ức đẹp thời thơ ấu:

    Quê cũ nhà ta thiếu của nào
    Rau trong nội, cá trong ao
    (Ngôn chí 13)

    Có khi, đó là nỗi nhớ day dứt trong những năm tháng xa quê tìm đường cứu nước:

    Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng
    Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền
    (Mạn hứng)

    Có khi, đó là tình cảm thân thiết của tác giả đối với quê cũ, ngày trở về ở ẩn:

    Côn Sơn suối chảy rì rầm
    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
    (Côn Sơn ca)


    Nhà thơ cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống thanh bần, trong sách nơi quê hương, nơi thanh lọc tâm hồn, gìn giữ phẩm giá người quân tử:

    Ngày tháng kê khoai những sản hằng
    Tường đào ngõ mận ngại thung thăng


    Yêu quê hương, nhà thơ luôn trăn trở với khát vọng: làm gì cho quê hương

    Gia sơn cách đường nghìn dặm
    Sự nghiệp buồn, đêm trống ba



    II. TẤM LÒNG ƯU QUỐC ÁI DÂN SÂU NẶNG

    Trong thơ Nguyễn Trãi, ta thường bắt gặp những từ tiên ưu, ưu ái. Ðây là nét ngời sáng trong tâm hồn Nguyễn Trãi:

    Bui một tấc lòng ưu ái cũ
    Ðêm ngày cuồn cuộn nước triều đông
    (Thuật hứng 5)

     

    Oải ốc thê thân kham độ lão
    Thương sinh tại niệm độc tiên ưu
    Bình sinh độc bão tiên ưu chí
    Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên
    Gia sơn đường cách nghìn dặm
    Ưu ái lòng phiền nửa đêm
    Tóc nên bạc bởi lòng ưu ái,..


    Xuất phát từ một câu nói nổi tiếng của Phạm Trọng Yêm đời Tống, từ tiên ưu thể hiện rõ quan niệm sống cao cả: yêu nước thương dân, chiến đấu suốt đời vì nước vì dân.

    Suốt đời mình, Nguyễn Trãi xem công danh chỉ là điều kiện giúp đời:

    Một thân lẩn quất đường khoa mục
    Hai chữ mơ màng việc quốc gia
    Vì nợ quân thân chưa báo được
    Hài hoa còn bận dặm thanh vân
    (Ngôn chí 11)


    Nhà thơ luôn ý thức rõ ràng về trách nhiệm của một kẻ sĩ chân chính:

    Ðầu tiếc đội mòn khăn Ðỗ Phủ
    Tài còn lọ hái cúc Uyên Minh
    (Mạn thuật 9)

     

    Quốc phú binh cường chăng có chước
    Bằng tôi nào thuở ích chưng dân


    Những khát khao, mơ ước của Nguyễn Trãi luôn đi trước, chỉ đạo mọi hành động:

    Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
    Dân giàu đủ khắp đòi phương
    (BKCG 43)

     

    Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn
    Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền
    (Tự thán 4)


    Từ mơ ước, tác giả thể hiện rõ một quyết tâm hành động:

    Khó ngặt qua ngày xin sống
    Xin làm đời trị mỗ thái bình
    (Tự thán 28)

     

    Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
    Có nhân, có trí, có anh hùng
    (BKCG 5)


    Những năm cuối đời nhiều bất hạnh, thơ Nguyễn Trãi đôi khi lắng đọng một nỗi niềm u uất, chán nản, bi quan, thậm chí thấm thía giọng điệu mỉa mai cho sự nghiệp anh hùng dở dang của mình:

    Say mùi đạo trà ba chén
    Tả lòng phiền thơ bốn câu
    Uất uất thốn hoài vô nại xứ
    Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh


    Có lúc, ông mỉa mai chính bản thân mình:

    Cưỡi gió lên cao chín vạn tầng
    Xưa kia lầm ví với chim bằng


    Có lúc, thơ ông thấm lạnh một nỗi cô đơn tê tái trong những đêm dài trên núi Côn Sơn:

    Rượu đối cầm đâm thơ một thủ
    Ta cùng bóng lẫn nguyệt ba người


    Có lúc, ông ví mình như một chiếc thuyền con, giữa trời chiều mênh mông chẳng biết ghé bến nào:

    Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
    Trời ban tối biết về đâu


    Tuy nhiên, vượt qua tất cả những bất hạnh, thăng trầm của cuộc đời làm quan bị ganh ghét, đố kỵ, Nguyễn Trãi vẫn giữ cho mình Một tấc lòng son còn nhớ chúa- Tóc hai phần bạc bởi thương thu. Có âm điệu buồn trong thơ ông nhưng đó không phải là âm điệu chủ đạo. Vấn đề lớn lao nhất mãi làm ông quan tâm chính là ưu quốc, ái dân, lo cho đất nước và thương nhân dân. Ðiều làm tỏa sáng nhân cách lớn lao của một người anh hùng, một kẻ sĩ chân chính.

    III. MỘT TRÍ TUỆ UYÊN BÁC LUÔN TÌM HIỂU ĐỂ NẮM BẮT NHỮNG QUY LUẬT VẬN ĐỘNG CỦA ĐỜI SỐNG

    Trong thơ ông, ta thường thấy những tư tưởng triết học phương Ðông được dân tộc hóa và những kết luận có giá trị về quy luật của đời sống. Nhà thơ là con người giàu suy tư để dằn vặt với nỗi đau hữu hạn của đời người cho dù đó là cuộc đời của người anh hùng:

    Kim cổ vô cùng giang mạc mạc
    Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu
    (Vãng hứng)

     

    Giang san như tạc anh hùng thệ
    Thiên địa vô tình sự biến đa
    Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
    Anh hùng di hận kỷ thiên niên
    (Quan hải)


    Nhà thơ có những kết luận có giá trị về vai trò và sức mạnh vĩ đại của quần chúng, những người làm nên lịch sử:

    Phúc chu thủy tín dân do thủy
    Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
    (Quan hải)

     

    Ở yên thì nhớ lòng xung đột
    Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày


    Có khi, chính vốn sống, sự nếm trải trong cuộc đời thăng trầm đã giúp nhà thơ thấy rõ hơn bản chất của lòng người:

    Dễ hay ruột biển sâu cạn
    Khôn biết lòng người ngắn dài
    Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
    Lòng người quanh nữa nước non quanh


    Phải là người có vốn sống, sự từng trải mới có thể có những nhận xét sâu sắc về cuộc đời:

    Tĩnh lý càn khôn kinh vạn biến
    Nhàn trung nhật nguyệt trị thiên kim
    (Thu nguyệt ngẫu thành)



    IV. MỘT CHÍ KHÍ HÀO HÙNG, MỘT NHÂN CÁCH CAO THƯỢNG:

    Mạnh mẽ, hào hùng, khẳng khái, trong sách, đó là nhân cách và chí khí Nguyễn Trãi được thể hiện qua thơ ông.

    - Nhà thơ luôn có ý thức vươn lên trong thử thách để khẳng định chí khí hào hùng của mình:

    Khó khăn thì mặc có màng bao
    Càng khó bao nhiêu chí mới hào


    Ông thường thể hiện chí chí của mình bằng những hình ảnh kỳ vĩ:

    Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ
    Tráng tâm hô khởi bán phàm phong
    (Quá hải)


    Với bản lĩnh và nghị lực của một người anh hùng, ông luôn tự hào, tự tin về mình:

    Thừa chỉ ai rằng thời khó ngặt
    Túi thơ chứa hết mọi giang san
    (Tự thán 2)

     

    Gánh khôn đương quyền tướng phủ
    Lui ngõ được đất Nho thần
    (Trần tình 1)


    Vì tự tin, tự hào nên trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhà thơ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại:

    Ðủng đỉnh chiều hôm dắt tay
    Trông thế giới phút chim bay
    Ðạp áng mây, ôm bó củi
    Ngồi bên suối gác cần câu
    Quét trúc bước qua lòng suối
    Thưởng mai về đạp bóng trăng


    Không chỉ có phong thái ung dung tự tại, cách nói của nhà thơ cũng thật khẳng khái, mạnh mẽ:

    Dầu bụt dầu tiên ai kẻ hỏi
    Ông này đã có thú ông này
    Chớ cậy sang mà ép nề
    Lời chẳng phải vẫn không nghe


    - Là một kẻ sĩ có nhân cách cao thượng Nguyễn Trãi luôn tự hào về những năm tháng làm quan thanh liêm của mình:

    Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa
    Thập niên thanh chức ngọc hồ băng


    Ðó là một con người Cốt lãnh hồn thanh chăng khứng hóa, luôn sống thanh bạch, giản dị, không chấp nhận luồn cúi để nhận bổng lộc:

    Mắt hòa xanh đầu dễ bạc
    Lưng không uốn, lộc nên từ
    Cơm kẻ bất nhân ăn, ấy chớ
    Aïo người vô nghĩa mặc, chẳng thà


    Ðó cũng là con người trải bao thăng trầm dâu bể, bao đau đớn bất hạnh vẫn cứ nhìn cuộc đời bằng con mắt xanh, con mắt tin yêu, hy vọng:

    Tuổi cao tóc bạc cái râu bạc
    Nhà ngặt đèn xanh con mắt xanh


    Không những thế, Nguyễn Trãi luôn luôn có ý thức bảo vệ nhân cách trong sáng của mình, chống lại mọi cám dỗ của đời sống:
    Ngọc lành nào có tơ vết
    Vàng thực âu chi lửa thiêu

    V. MỘT TÂM HỒN NHẠY CẢM RỘNG MỞ

    Thơ Nguyễn Trãi luôn chan hòa tình cảm đối với thiên nhiên, con người. Ông có cách nhìn, cách cảm tuyệt với trước vẻ đẹp của thiên nhiên, chân thành tha thiết trong tình bạn, hóm hỉnh nhưng tế nhị, sâu sắc trong tình người.

    - Ông xem thiên nhiên là bạn, láng giềng, anh em, những người an ủi mình trên đỉnh Côn Sơn cô độc

    Cò nằm hạc lặc nên bầy bạn
    Ủ ấp cùng ta làm cái con
    Láng giềng một áng mây bạc
    Khách khứa hai ngàn núi xanh


    Vì yêu thiên nhiên nên Nguyễn Trãi đã viết được những câu thơ tuyệt vời về vẻ đẹp của thiên nhiên:

    Nước biếc non xanh thuyền gối bãi
    Ðêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
    Hương cách gác vân thu lạnh lạnh
    Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh


    - Với bạn, tác giả luôn bày tỏ tấm lòng chân thành tha thiết:

    Có thuở biếng thăm bạn cũ
    Lòng thơ ngàn dặm nguyệt ba canh
    Danh thơm một áng mây nổi
    Bạn cũ ba thu lá tàn


    - Với con người, tác giả tỏ ra rất sâu sắc, nhạy cảm trong khi phát hiện những biến đổi, xao động phức tạp trong tâm hồn con người: Bài thơ Tiếc cảnh 10, Cây chuối, cảnh hè,..

    VI. NGHỆ THUẬT THƠ

    Sáng tác thơ của Nguyễn Trãi có trên 100 bài thơ chữ Hán và 254 bài thơ chữ Nôm. Ðặc biệt, qua Quốc âm thi tập, ta có thể thấy rõ những đóng góp đáng trân trọng của Nguyễn Trãi về nhiều phương diện mà tiêu biểu nhất là phương diện thể thơ và ngôn từ:

    1. Về thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi

    - Ðây là một thể thơ được sáng tác dựa trên quy cách và cấu trúc của thơ Ðường luật. Ðiểm khác biệt là ở hiện tượng xen kẽ những câu sáu tiếng vào các câu 7 tiếng của bài thơ bát cú lẫn tứ tuyệt luật Ðường.

    - Số lượng các bài thơ được sáng tác theo hình thức này rất lớn (186/254) chứng tỏ rằng Nguyễn Trãi hoàn toàn có ý thức khi vận dụng thể thơ này như một sự thử nghiệm cho việc tìm ra một thể thơ mới cho dân tộc, chống lại ảnh hưởng quá sâu sắc của thi ca Trung Hoa.

    - Xét về tác dụng nghệ thuật, câu thơ 6 tiếng trong bài thơ thất ngôn xen lục ngôn khiến lời thơ trở nên cô đọng, giản dị, ý thơ mạnh mẽ, sắc sảo, thường phù hợp với việc diễn đạt những chân lý của đời sống, những quyết tâm hành động của nhà thơ. Ngoài ra, cách ngắt nhịp phong phú của câu thơ 6 chữ khiến nó có khả năng diễn đạt được những cung bậc tình cảm đặc biệt tinh tế, sâu sắc của con người.

    - Tuy nhiên, sự xuất hiện của các câu thơ 6 chữ đã làm phá vỡ kết cấu hoàn chỉnh của bài thơ Ðường luật, dẫn đến việc thất niêm, thất luật. Vì vậy, thể thơ này ngày càng ít đực sử dụng, nhường chỗ cho những thể thơ dân tộc khác hoàn chỉnh hơn về mặt cấu trúc và niêm luật.

    2. Ngôn từ thơ Nôm Nguyễn Trãi:

    - Bị chi phối bởi quan niệm thẩm mỹ của văn chương trung đại, thơ Nôm Nguyễn Trãi vẫn mang tính uyên bác, sử dụng nhiều điển cố và các hình ảnh tượng trưng ước lệ.

    - Tuy nhiên, nhờ sử dụng chữ Nôm, thơ Nguyễn Trãi đã ngày càng dung dị, tự nhiên, gần gũi hơn với cuộc sống của nhân dân lao động. Từ ngữ trong thơ Nôm thường có sức gợi tả mạnh và đặc biệt độc đáo.

    - Nhờ chữ Nôm, Nguyễn Trãi đã thành công trong việc đưa vào thơ ca bác học nguồn thi liệu vô cùng quý giá của tục ngữ, thành ngữ, ca dao.

     

    Tai lieu bo xung
    Nguyễn Trai là một tài năng hiếm có. Tổng hợp nhiều con người trong một con người : nhà chính trị,
    quân sự, ngoại giao kiệt xuất, nhà tư tưởng, văn hoá lớn, nhà nghệ sĩ lỗi lạc.
    Nguyễn Trói là một Oan khiên hiếm có. Hiếm có ai tài năng, công lao, đức độ

    như Nguyễn Trói, vậy mà phải chịu vu oan với cái án thảm khốc “tru di tam tộc”. Tội của Nguyễn Trói
    ư, thực ra ông chết vì trong sáng quá, thanh liêm quá.
    Tuy nhiên, tựu trung lại, đây là con người yêu nước thương dân, đau đáu tấm

    lòng vì dân giúp nước tiêu biểu nhất trong hơn một nghìn năm phong kiến độc lập tự chủ Việt Nam.
    Lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trói có nguồn gốc từ lí tưởng nhân nghĩa của Nho giáo, song
    được chọn lọc lấy những yếu tố tích cực, “Việt hoá” theo yêu cầu
    đạo đức và đặc biệt là theo thực tế cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, theo đòi hỏi của dân tình.
    Do đó, tư tưởng nhân nghĩa của ông vừa tiến bộ, vừa thiết thực. Cụ thể : nhân nghĩa = yêu nước +
    thương dân, trong đó, dân là gốc của nước. “Thân dân” cũng là cốt lõi trong tư tưởng yêu nước của
    ông.
    Lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trói vừa nhất quán, vừa biến đổi phù hợp với vận động của cuộc
    sống. Trong kháng chiến, đó là lòng căm thù giặc, ý chí quyết chiến quyết thắng quân xâm lược.
    “Bình Ngô đại cáo” là một bản cáo trạng tội
    ác kẻ thù hùng hồn :

    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

    Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.

    Hình ảnh thơ thật dữ dội, mang tầm khái quát lớn mà vẫn lay động tâm can người đọc. Đáng chú ý là
    tác giả tố cáo tội ác của kẻ thù đối với ai và vì ai mà tác giả tố cáo ? Chính nhân dân : “dân
    đen”, “con đỏ” ư người lao động cùng khổ nhất, niềm yêu và nỗi đau khắc khoải suốt đờiòong. Câu thơ
    mónh liệt về cảm xúc, lớn lao về tư
    tưởng.

    Nỗi đau lớn lao tạo nên hành động lớn. ý chí và sức mạnh chiến đấu cho hạnh phúc nhân dân được
    miêu tả mang tầm vóc sử thi kì vĩ :
    ... Gươm mài đá, đá núi cũng mòn

    Voi uống nước, nước sông phải cạn

    ... Cơn gió to trút sạch lá khô Tổ kiến hồng sụt toang đê vỡ.
    Không khí trận mạc ấy nhiều tác phẩm khác có thể có nhưng lí tưởng trận mạc thì không tác phẩm nào
    sánh kịp.
    Đất nước tan bóng giặc, lòng yêu nước của Nguyễn trói là khát vọng sao cho nhân dân no ấm. Bài Bảo
    kính cảnh giới số 43 có 6 câu tả cảnh, nhưng hai câu kết vút lên tiếng nhạc lòng thẳm sâu của tác
    giả :
    Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng

    Dân giàu đủ khắp đòi phương.

    Đây không chỉ là khát vọng cơm áo, mà còn là ước mơ một nền chính trị nhân

    ái.


    Nỗi đau trong thơ Nguyễn Trói có nguồn gốc từ sự chứng kiến thói đời đen bạc

    và những thăng trầm cá nhân.

    Buồn trước nhân tình thế thái :

    Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết

    Bui một lòng người cực hiểm thay.

    Câu thơ nước mắt có dáng dấp tục ngữ. Lối viết này ta gặp rất nhiều : “ở thế nhiều phen thấy khóc
    cười”, “Hoa thì hay héo cỏ thì tươi”. Âm điệu của nó trầm uất, nội dung là vạch ra cái trớ trêu,
    phi lí, đen bạc của cuộc đời.
    Buồn nhưng không bi quan tuyệt vọng, vẫn như tùng bách hiên ngang “Ung
    dung cứ nói điều ta thích ư Uốn gối theo đời không thể vâng”. Bản lĩnh cứng cỏi, nhân cách trung
    thực, Nguyễn Trói coi “Sự thế nhiều khi muốn khóc cười” là nơi thử thách,

    rèn luyện mình. Và ông tự hào chính đáng : “Một tấm lòng son lò lửa luyện ư Mười năm thanh chức
    ngọc hồ băng”.
    Điều sâu xa nhất trong nhân cách Nguyễn Trói là luôn canh cánh nỗi lo dân nước. Quy ẩn mà tấm lòng
    ông vẫn tha thiết với đời, trào dâng như biển cả trong những vần thơ thật cảm động : “Bui một tấc
    lòng ưu ái cũ / Đêm ngày cuồn cuộn nước triều
    đông”. Chữ “bui” (từ cổ) nghĩa là riêng. Đi tận nỗi niềm riêng Nguyễn Trói, lại hoá ra là “tấc lòng
    ưu ái” với dân ư nước. Đó là tầm vóc lớn của tư tưởng và cường độ lớn của xúc cảm trong thơ, mà
    hạt nhân là tư tưởng thân dân. Nước với dân là một, nói đúng hơn, dân là nhân lõi của nước. Sáng
    suốt biết chừng nào !
    Hồn thơ Nguyễn Trói không chỉ có độ sâu mà còn rất phong phú . Đó là lòng

    yêu thiên nhiên đằm thắm thiết tha. Chốn ẩn dật u tịch không khép lại hồn ông mà mở ra bao âm vang
    thắm thiết của đời thường.
    Cò nằm hạc lẩn nên bầy bạn

    ủ ấp cùng ta làm cái con.

    Biết bao ấm áp trong hai chữ “ủ ấp”. Nguyễn Trói không chỉ đến, mà nhập vào thiên nhiên. Sự hoà hợp
    này phát lộ thành những câu thơ kì diệu. Nói chuyện uống rượu mà viết “Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng
    chén” thì thật bất ngờ, lí thú. Uống rượu thành uống trăng (hớp nguyệt), say trăng như say rượu
    (nghiêng chén) đúng là bậc đại giác mới sinh đại mộng.
    Hồn thơ như thế nên biến hoá cả cây chuối dân dó thành. “Tình như một bức

    phong còn kín / Gió nơi đâu gượng mở xem” cũng không có gì lạ. Mảng thơ này làm Nguyễn Trói “người”
    hơn, gần chúng ta hơn, vì thế mà “vĩ nhân” hơn. Bởi Mác đó nói rất hay : “Những gì thuộc về con
    người dều không xa lạ với tôi”.
    Nguyễn Trói còn là một nhà chính luận lỗi lạc. Quân chung từ mệnh tập là một biểu tượng mẫu mực.
    Sắc sảo chặt chẽ trong tập luận trên cơ sở một tư tưởng nhân nghĩa tiến bộ, cao đẹp, lay động cả
    tâm trí người đọc. Trước kẻ thù đang thất thế mà người nắm chắc phần thắng hạ bút “Nếu muốn rút
    quân về nước ta cho sửa sang cầu cống, mua sắm tầu thuyền, thuỷ bộ hai đường, tuỳ theo ý muốn ;
    quân ra khỏi cõi, yên ổn muôn phần, không còn lo ngại gì, rồi đây ta lại nộp cống xưng thần, theo
    như lệ
    trước" (Thư lại dụ Vương Thông) thì quả là tinh tế, sâu xa, khôn ngoan rất mực, đáng


    để muôn đời suy ngẫm. Về Quân trung từ mệnh, Phan Huy Chú đó hạ một lời bình

    đích đáng ư “Có sức mạnh như mười vạn quân”.

    Thơ Nôm và Hán của ông không chỉ lớn về tư tưởng, nhạy cảm về tâm hồn, mà

    đầy hấp dẫn bởi lối thể hiện :

    Hái cúc ương lan hương bén áo

    Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn.

    “Hương bén áo”, "tuyết xâm khăn" khiến ẩn sĩ thành tiên ông. Song hay hơn cả là vẻ đẹp tổng hợp này
    : con người là trung tâm vũ trụ, là lực hút thiên nhiên. Thiên nhiên quần tụ quanh Nguyễn Trói .
    Bài thơ Nôm Bảo kinh cảnh giới số 43 tả
    cảnh:

    Hoè lục đùn đùn tán rợp gương

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.

    Những từ “đùn đùn”, “phun”, khiến chúng ta sửng sốt về ngôn ngữ thơ. Tiếng

    Việt buổi đầu ở Nguyễn Trói đó đạt một trình độ đáng khâm phục.

    Tóm lại, Nguyễn Trói xứng đáng là bậc đại thi hào đầu tiên của lịch sử văn học dân tộc, vừa kết
    tinh và nâng cao những tinh hoa văn hoá của thời đại trước, vừa khai sáng cho thơ ca tiếng Việt. Để
    có một Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến sau này, chắc không thể thiếu được cái nền lớn :

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Hang Nga @ 16:04 05/01/2014
    Số lượt xem: 25857
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến