Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Địa vị lịch sử của phong trào " Thơ Mới"

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:47' 05-01-2013
Dung lượng: 22.4 KB
Số lượt tải: 29
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:47' 05-01-2013
Dung lượng: 22.4 KB
Số lượt tải: 29
Số lượt thích:
0 người
Địa vị lịch sử của phong trào thơ
18/05/2012 09:06
Đúng như Hoài Thanh nhận định trong "Thi nhân Việt Nam", phong trào thơ mới là một cuộc cách mạng thi ca chưa từng có. Muốn hiểu đúng nội dung cách mạng ấy thì phải nhìn vào thi pháp, bởi phong trào thơ mới đã sáng tạo ra một quan niệm thơ mới, hệ thống hình thức thơ mới với thể loại thơ mới, đề thơ mới, cấu tứ mới, cảm xúc mới, ngôn ngữ mới, biểu tượng mới, phong cách mới, biện pháp tu từ mới...
Đã tám mươi năm phong trào t hơ mới, song vấn đề địa vị của nó trong lịch sử văn học Việt Nam hầu như chưa được đánh giá đúng mức.
Vì sao vậy? Đó là vì một thời gian rất dài, do ngự trị một quan điểm mác xít dung tục, chỉ thấy đó là phong trào thơ tư sản, tiểu tư s ả n có hại cho cách mạng vô sản, người ta đã hạ nó xuống dưới mức thấp nhất, chỉ thiếu một đường đào đất đem chôn nó đi. Từ năm 1951, Hoài Thanh trong công trình Nói chuyện thơ kháng chiến đã kiểm điểm những cái “rớt” của thơ mới trong dòng thơ này. Mấy năm sau ông lại tự kiểm điểm mình đã viết Thi nhân Việt Nam. Từ năm 1954 cho đến những năm 90 thơ mới ở vào vùng cấm, sinh viên, học sinh không được tiếp xúc với thơ mới. Giảng viên phải có giấy phép đặc biệt mới được thư viện cung cấp cho đọc. Giải phóng miền Nam được 6 năm, năm 1981, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ còn chỉ trích về tác hại của nó. Trong công trình Phong trào thơ mới lãng mạn 1932 – 1945, in năm 1981, không phải bản đã sửa để in lại sau này, giáo sư Phan Cự Đệ đã viết: “Chúng tôi cho rằng bản chất của thơ mới lãng mạn là tiêu cực, thoát li và đã có những màu sắc suy đồi. Khách quan mà nói thơ ca lãng mạn ít nhiều đã làm cho thanh niên trở nên bi luỵ và do đó làm quẩn bước chân của họ trên con đường đi đến cách mạng. Tuy nhiên ở nước ta thời kì trước cách mạng tháng Tám, từ những người phát ngôn cho quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật bằng những lời lẽ thành thực và ngây thơ, những thi sĩ đắm mình trong cái tháp ngà của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng cho đến những kẻ đề xướng ra một cái tôi to tướng, kênh kiệu, đi lù lù giữa cuộc đời và ném đá vào những người xung quanh… tất cả những nhà văn đó không phải là không còn ít nhiều tinh thần dân tộc và thái độ bất mãn với xã hội kim tiền ô trọc, với thói hợm hĩnh của giai cấp tư sản.” Thái độ của tác giả là phê phán kịch liệt. Ông biểu dương các nhà phê bình Vũ Đức Phúc và Hồng Chương đã có thái độ nghiêm khắc cần thiết đối với tác hại của thơ mới, và phê bình các giáo trình của Đại học Tổng hợp và của Đại học sư phạm có thái độ chưa dứt khoát đối với thơ mới. Cách nhận định như vậy là chỉ xét ở mặt tư tưởng, mà không chú ý đến thơ, mà tư tưởng cũng bị hiểu một cách giáo điều, dung tục. Một thái độ như vậy thì tất yếu thơ mới sẽ không có địa vị gì đáng nói trong lịch sử thơ ca Việt Nam.
Theo tôi , muốn đánh giá địa vị lịch sử của thơ mới chúng ta cần đặt nó vào trong lịch sử văn học Việt Nam. Đặc điểm của văn học Việt Nam, là do vấn đề chữ viết phải vay mượn từ ngày giành độc lập thế kỉ thứ X, cho nên văn học viết ViệtNam trớ trêu là bắt đầu với sáng tác văn chương bằng chữ Hán! Những bài thơ đầu tiên đều viết bằng chữ Hán, chỉ một số rất ít người đọc được. Mãi đến 5 thế kỉ sau chúng ta mới có thơ tiếng Việt, do đã có được chữ Nôm. Do chữ Nôm chưa hoàn thiện cho nên làm thơ với thứ chữ ấy có nhiều khó khăn, người đọc càng ít hơn chữ Hán. Thơ của Nguyễn Trãi, theo nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu, như con rồng đã bay lên nhưng nửa mình còn vật vã, nặng nhọc. Thơ Nguyễn Trãi rất sâu sắc, nhiều bài hay, nhưng cũng nhiều bài đọc còn khó nhọc, phải đến Nguyễn Khuyến, thơ Đường luật mới thật diệu nghệ, thanh thoát. Chữ Nôm chậm phát triển còn do nền khoa cử hầu như chỉ thi chữ Hán, bao nhiêu nhân tài tập trung trau dồi theo thứ chữ ấy. Cho nên suốt nhiều thế kỉ, thơ văn chữ Hán chiếm địa vị thống trị độc tôn, thơ văn Nôm bị xem là “nôm na mách qué”, có địa vị thấp kém, mặc dù nó được sự yêu mến gìn giữ của biết bao thế hệ, từ nhà nho đến vua chúa. Ta có thể kết
18/05/2012 09:06
Đúng như Hoài Thanh nhận định trong "Thi nhân Việt Nam", phong trào thơ mới là một cuộc cách mạng thi ca chưa từng có. Muốn hiểu đúng nội dung cách mạng ấy thì phải nhìn vào thi pháp, bởi phong trào thơ mới đã sáng tạo ra một quan niệm thơ mới, hệ thống hình thức thơ mới với thể loại thơ mới, đề thơ mới, cấu tứ mới, cảm xúc mới, ngôn ngữ mới, biểu tượng mới, phong cách mới, biện pháp tu từ mới...
Đã tám mươi năm phong trào t hơ mới, song vấn đề địa vị của nó trong lịch sử văn học Việt Nam hầu như chưa được đánh giá đúng mức.
Vì sao vậy? Đó là vì một thời gian rất dài, do ngự trị một quan điểm mác xít dung tục, chỉ thấy đó là phong trào thơ tư sản, tiểu tư s ả n có hại cho cách mạng vô sản, người ta đã hạ nó xuống dưới mức thấp nhất, chỉ thiếu một đường đào đất đem chôn nó đi. Từ năm 1951, Hoài Thanh trong công trình Nói chuyện thơ kháng chiến đã kiểm điểm những cái “rớt” của thơ mới trong dòng thơ này. Mấy năm sau ông lại tự kiểm điểm mình đã viết Thi nhân Việt Nam. Từ năm 1954 cho đến những năm 90 thơ mới ở vào vùng cấm, sinh viên, học sinh không được tiếp xúc với thơ mới. Giảng viên phải có giấy phép đặc biệt mới được thư viện cung cấp cho đọc. Giải phóng miền Nam được 6 năm, năm 1981, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ còn chỉ trích về tác hại của nó. Trong công trình Phong trào thơ mới lãng mạn 1932 – 1945, in năm 1981, không phải bản đã sửa để in lại sau này, giáo sư Phan Cự Đệ đã viết: “Chúng tôi cho rằng bản chất của thơ mới lãng mạn là tiêu cực, thoát li và đã có những màu sắc suy đồi. Khách quan mà nói thơ ca lãng mạn ít nhiều đã làm cho thanh niên trở nên bi luỵ và do đó làm quẩn bước chân của họ trên con đường đi đến cách mạng. Tuy nhiên ở nước ta thời kì trước cách mạng tháng Tám, từ những người phát ngôn cho quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật bằng những lời lẽ thành thực và ngây thơ, những thi sĩ đắm mình trong cái tháp ngà của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng cho đến những kẻ đề xướng ra một cái tôi to tướng, kênh kiệu, đi lù lù giữa cuộc đời và ném đá vào những người xung quanh… tất cả những nhà văn đó không phải là không còn ít nhiều tinh thần dân tộc và thái độ bất mãn với xã hội kim tiền ô trọc, với thói hợm hĩnh của giai cấp tư sản.” Thái độ của tác giả là phê phán kịch liệt. Ông biểu dương các nhà phê bình Vũ Đức Phúc và Hồng Chương đã có thái độ nghiêm khắc cần thiết đối với tác hại của thơ mới, và phê bình các giáo trình của Đại học Tổng hợp và của Đại học sư phạm có thái độ chưa dứt khoát đối với thơ mới. Cách nhận định như vậy là chỉ xét ở mặt tư tưởng, mà không chú ý đến thơ, mà tư tưởng cũng bị hiểu một cách giáo điều, dung tục. Một thái độ như vậy thì tất yếu thơ mới sẽ không có địa vị gì đáng nói trong lịch sử thơ ca Việt Nam.
Theo tôi , muốn đánh giá địa vị lịch sử của thơ mới chúng ta cần đặt nó vào trong lịch sử văn học Việt Nam. Đặc điểm của văn học Việt Nam, là do vấn đề chữ viết phải vay mượn từ ngày giành độc lập thế kỉ thứ X, cho nên văn học viết ViệtNam trớ trêu là bắt đầu với sáng tác văn chương bằng chữ Hán! Những bài thơ đầu tiên đều viết bằng chữ Hán, chỉ một số rất ít người đọc được. Mãi đến 5 thế kỉ sau chúng ta mới có thơ tiếng Việt, do đã có được chữ Nôm. Do chữ Nôm chưa hoàn thiện cho nên làm thơ với thứ chữ ấy có nhiều khó khăn, người đọc càng ít hơn chữ Hán. Thơ của Nguyễn Trãi, theo nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu, như con rồng đã bay lên nhưng nửa mình còn vật vã, nặng nhọc. Thơ Nguyễn Trãi rất sâu sắc, nhiều bài hay, nhưng cũng nhiều bài đọc còn khó nhọc, phải đến Nguyễn Khuyến, thơ Đường luật mới thật diệu nghệ, thanh thoát. Chữ Nôm chậm phát triển còn do nền khoa cử hầu như chỉ thi chữ Hán, bao nhiêu nhân tài tập trung trau dồi theo thứ chữ ấy. Cho nên suốt nhiều thế kỉ, thơ văn chữ Hán chiếm địa vị thống trị độc tôn, thơ văn Nôm bị xem là “nôm na mách qué”, có địa vị thấp kém, mặc dù nó được sự yêu mến gìn giữ của biết bao thế hệ, từ nhà nho đến vua chúa. Ta có thể kết
 








Các ý kiến mới nhất