Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
NHÌN LẠI CÁC BƯỚC ĐI, LẮNG NGHE NHỮNG TIẾNG NÓI VỀ
VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỎI MỚI 1975-1991

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 02h:04' 30-06-2010
Dung lượng: 103.5 KB
Số lượt tải: 21
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 02h:04' 30-06-2010
Dung lượng: 103.5 KB
Số lượt tải: 21
Số lượt thích:
0 người
NHÌN LẠI CÁC BƯỚC ĐI, LẮNG NGHE NHỮNG TIẾNG NÓI VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỎI MỚI 1975-1991
1. Cái được gọi là "văn học đổi mới" ở Việt Nam đến nay đã cũ chưa? Nếu cũ rồi thì điểm dừng, chỗ kết thúc của nó là ở đâu? Là năm nay, năm ngoái, năm kia, hay mươi năm về trước? Bức tranh văn học Việt Nam sau 1975 phong phú, đa dạng với nhiều bè bối tương đối phức tạp.
Nó là sản phẩm của nhiều thế hệ cầm bút có quan điểm nghệ thuật rất khác, thậm chí đối lập, trái ngược nhau. Liệu có phải tất cả những gì do những con người ấy viết ra sau 1975 đều có thể gọi là văn học đổi mới? Bản chất thẩm mỹ của văn học đổi mới là gì? Nghiên cứu văn học Việt Nam sau 1975, không thể không giải đáp những câu hỏi như thế. Khi những câu hỏi như thế chưa được giải đáp, khái niệm văn học thời kì đổi mới vẫn chỉ là một khái niệm tù mù. 2. Trong đời sống xã hội, "thời kì đổi mới" ở Việt Nam được tính từ năm 1986. Đây là năm diễn ra Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên diễn đàn của Đại hội này, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố "cởi trói", "đổi mới tư duy", với rất nhiều "việc cần làm ngay". Nhưng văn học có vẻ như nhạy cảm hơn chính trị. Hàng chục năm trước đó, người ta đã thấy xuất hiện nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, bút kí... thể hiện sự đổi mới sâu sắc trong đời sống của văn học nghệ thuật. Truyện ngắn Bức tranh viết năm 1975 của nhà văn Nguyễn Minh Châu là ví dụ tiêu biểu. Cho nên, có thể chọn năm 1975 làm cột mốc phân phân kỳ lịch sử, đánh dấu bước ngoặt đổi mới của văn học Việt Nam. Nhiều người vẫn gọi chung văn học sau 1975 là "văn học đổi mới" hoặc, "văn học của thời kì đổi mới". Nhưng khi đã có đủ độ lùi thời gian để nhìn lại, ta nhận ra, "văn học đổi mới" là một cao trào sáng tác có quá trình hình thành, phát triển và kết thúc. Có thể tạm chia cuộc vận động đổi mới của văn học Việt Nam thành 3 giai đoạn: 1975 - 1985; 1986 - 1991 và 1992 đến nay. Xin nói thêm, các năm 1975, 1986, 1992... chỉ là những cái mốc hết sức tương đối. 2.1. Giai đoạn 1975 - 1985. Đây là giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ đổi mới. Gọi đó là giai đoạn "khởi động" bởi vì, nếu chỉ nhìn ở bề ngoài thì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, lịch sử Việt Nam chuyển qua một thời đại mới, nhưng văn học nghệ thuật thì hình như vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học. Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi. Nhưng hình như giới sáng tác đã cảm thấy không thể tiếp tục viết văn như trước. Tôi nhớ, một lần trò chuyện thân tình, Nguyên Ngọc thừa nhận, rằng càng viết, tay nghề càng cao, nhưng những trang văn của ông thì hình như càng ngày càng mất dần độc giả. Và thế là sự đổi mới bắt đầu được khởi động. Nó được khởi động chủ yếu ở mảng văn học dịch. Suốt một thời gian rất dài, từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến 1975, người Việt Nam chỉ được tiếp xúc với nền văn học cổ điển châu Âu qua một số đỉnh cao từ thế kỉ XIX đổ về trước. Văn học nước ngoài đương đại được giới thiệu ở Việt Nam thời ấy chủ yếu là sáng tác của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Sau năm 1975, cảnh tượng của văn học dịch hoàn toàn thay đổi. Sôi nổi nhất là hoạt động dịch, giới thiệu nền văn học đương đại Âu - Mỹ. Hầu hết những tác phẩm được giải Nobel, những tác phẩm ưu tú của các tác gia đương đại thuộc các trường phái nghệ thuật hết sức khác nhau, như tượng trưng, siêu thực, hiện sinh, trường phái hiện đại, hậu hiện đại... đã được dịch ra tiếng Việt, bày bán tràn ngập trong các cửa hàng sách. Người ta còn tổ chức dịch những tác phẩm văn học của các nước xã hội chủ nghĩa mà trước đó bị cấm đoán, ví như thơ của Akhmatova và tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago của Pasternak. Mảng văn học dịch này có tác động vô cùng lớn lao tới quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam. Nó làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, trước hết là thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp thanh niên. Các nhà văn từng sáng tác trong thời
1. Cái được gọi là "văn học đổi mới" ở Việt Nam đến nay đã cũ chưa? Nếu cũ rồi thì điểm dừng, chỗ kết thúc của nó là ở đâu? Là năm nay, năm ngoái, năm kia, hay mươi năm về trước? Bức tranh văn học Việt Nam sau 1975 phong phú, đa dạng với nhiều bè bối tương đối phức tạp.
Nó là sản phẩm của nhiều thế hệ cầm bút có quan điểm nghệ thuật rất khác, thậm chí đối lập, trái ngược nhau. Liệu có phải tất cả những gì do những con người ấy viết ra sau 1975 đều có thể gọi là văn học đổi mới? Bản chất thẩm mỹ của văn học đổi mới là gì? Nghiên cứu văn học Việt Nam sau 1975, không thể không giải đáp những câu hỏi như thế. Khi những câu hỏi như thế chưa được giải đáp, khái niệm văn học thời kì đổi mới vẫn chỉ là một khái niệm tù mù. 2. Trong đời sống xã hội, "thời kì đổi mới" ở Việt Nam được tính từ năm 1986. Đây là năm diễn ra Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên diễn đàn của Đại hội này, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố "cởi trói", "đổi mới tư duy", với rất nhiều "việc cần làm ngay". Nhưng văn học có vẻ như nhạy cảm hơn chính trị. Hàng chục năm trước đó, người ta đã thấy xuất hiện nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, bút kí... thể hiện sự đổi mới sâu sắc trong đời sống của văn học nghệ thuật. Truyện ngắn Bức tranh viết năm 1975 của nhà văn Nguyễn Minh Châu là ví dụ tiêu biểu. Cho nên, có thể chọn năm 1975 làm cột mốc phân phân kỳ lịch sử, đánh dấu bước ngoặt đổi mới của văn học Việt Nam. Nhiều người vẫn gọi chung văn học sau 1975 là "văn học đổi mới" hoặc, "văn học của thời kì đổi mới". Nhưng khi đã có đủ độ lùi thời gian để nhìn lại, ta nhận ra, "văn học đổi mới" là một cao trào sáng tác có quá trình hình thành, phát triển và kết thúc. Có thể tạm chia cuộc vận động đổi mới của văn học Việt Nam thành 3 giai đoạn: 1975 - 1985; 1986 - 1991 và 1992 đến nay. Xin nói thêm, các năm 1975, 1986, 1992... chỉ là những cái mốc hết sức tương đối. 2.1. Giai đoạn 1975 - 1985. Đây là giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ đổi mới. Gọi đó là giai đoạn "khởi động" bởi vì, nếu chỉ nhìn ở bề ngoài thì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, lịch sử Việt Nam chuyển qua một thời đại mới, nhưng văn học nghệ thuật thì hình như vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến. Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học. Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi. Nhưng hình như giới sáng tác đã cảm thấy không thể tiếp tục viết văn như trước. Tôi nhớ, một lần trò chuyện thân tình, Nguyên Ngọc thừa nhận, rằng càng viết, tay nghề càng cao, nhưng những trang văn của ông thì hình như càng ngày càng mất dần độc giả. Và thế là sự đổi mới bắt đầu được khởi động. Nó được khởi động chủ yếu ở mảng văn học dịch. Suốt một thời gian rất dài, từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến 1975, người Việt Nam chỉ được tiếp xúc với nền văn học cổ điển châu Âu qua một số đỉnh cao từ thế kỉ XIX đổ về trước. Văn học nước ngoài đương đại được giới thiệu ở Việt Nam thời ấy chủ yếu là sáng tác của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Sau năm 1975, cảnh tượng của văn học dịch hoàn toàn thay đổi. Sôi nổi nhất là hoạt động dịch, giới thiệu nền văn học đương đại Âu - Mỹ. Hầu hết những tác phẩm được giải Nobel, những tác phẩm ưu tú của các tác gia đương đại thuộc các trường phái nghệ thuật hết sức khác nhau, như tượng trưng, siêu thực, hiện sinh, trường phái hiện đại, hậu hiện đại... đã được dịch ra tiếng Việt, bày bán tràn ngập trong các cửa hàng sách. Người ta còn tổ chức dịch những tác phẩm văn học của các nước xã hội chủ nghĩa mà trước đó bị cấm đoán, ví như thơ của Akhmatova và tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago của Pasternak. Mảng văn học dịch này có tác động vô cùng lớn lao tới quá trình đổi mới văn học ở Việt Nam. Nó làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, trước hết là thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp thanh niên. Các nhà văn từng sáng tác trong thời
 








Các ý kiến mới nhất