Chào mừng quý vị đến với Luyện thi ĐH môn Văn- Website Hằng Nga.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Tính hiện đại của Thơ mới Việt Nam xét trên phương
diện ngôn từ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:33' 31-03-2012
Dung lượng: 29.7 KB
Số lượt tải: 33
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:33' 31-03-2012
Dung lượng: 29.7 KB
Số lượt tải: 33
Số lượt thích:
0 người
姮娥
草蘼
Tính hiện đại của Thơ Việt Nam xét trên ngôn từ
13/01/2011 01:54
Vượt ra ngoài không gian văn học vùng để tham gia vào một không gian văn học rộng lớn hơn là chiều hướng vận động có tính tất yếu đối với văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX, trong đó có thơ. Đó cũng chính là quá trình hiện đại hóa. Đối với văn học Việt Nam, do trực tiếp tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn học Pháp, nên quá trình đó cũng chính là thế giới hóa và phương Tây hóa. Quá trình ấy diễn ra trên nhiều bình diện, từ sự cảm nhận thế giới, sự đồng hóa thế giới thành nội dung nghệ thuật đến sự sáng tạo và vận dụng các phương tiện diễn đạt… theo tinh thần hiện đại. Bài viết này chỉ nhấn mạnh một số biểu hiện tính hiện đại trên phương diện ngôn từ, một trong những vấn đề quan trọng đối với các nhà thơ trong phong trào thơ mới 1932-1945.
Vượt ra ngoài không gian văn học vùng để tham gia vào một không gian văn học rộng lớn hơn là chiều hướng vận động có tính tất yếu đối với văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX, trong đó có thơ. Đó cũng chính là quá trình hiện đại hóa. Đối với văn học Việt Nam, do trực tiếp tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn học Pháp, nên quá trình đó cũng chính là thế giới hóa và phương Tây hóa. Quá trình ấy diễn ra trên nhiều bình diện, từ sự cảm nhận thế giới, sự đồng hóa thế giới thành nội dung nghệ thuật đến sự sáng tạo và vận dụng các phương tiện diễn đạt… theo tinh thần hiện đại. Bài viết này chỉ nhấn mạnh một số biểu hiện tính hiện đại trên phương diện ngôn từ, một trong những vấn đề quan trọng đối với các nhà thơ trong phong trào thơ mới 1932-1945.
1. Trong văn học phương Tây, văn học tiền hiện đại chủ yếu chú trọng phương diện nội dung, xem vấn đề đề tài, chủ đề, nội dung các hình tượng quyết định giá trị của một tác phẩm. Văn học lãng mạn ra đời được xem như một “hủy thể” của chủ nghĩa cổ điển, tuy nhiên, do hầu hết các nhà văn lãng mạn gắn hoạt động văn học với những hoạt động xã hội và do sáng tạo trong thời đại người phương Tây đang còn lạc quan về quyền năng của tư duy duy lí nên sự đối lập với văn học cổ điển chủ yếu biểu hiện ở khuynh hướng tự do hóa, đề cao cảm xúc và tưởng tượng cá nhân, phản ứng tính công thức, qui phạm... Và vì vậy, dù đó là “một sự bùng nổ kinh động”, là “chân trời không giới hạn”…, nhưng nhìn chung, sự quan tâm của các nghệ sĩ lãng mạn chủ yếu vẫn thiên về cái được biểu đạt chứ không phải cái biểu đạt. Sau sự thoái trào của trào lưu này, tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt dường như có sự sắp xếp lại, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn từ, gắn liền với tinh thần “vị nghệ thuật”, bắt đầu từ phái Parnasse, và sau đó là sự ra đời của trào lưu hiện đại chủ nghĩa. Về sự hoán vị tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, Roland Barthes đã nêu nhận xét thú vị, có tính tổng kết: “Ý nhị cổ điển là ý nhị về các mối quan hệ, chứ không phải về từ: đó là nghệ thuật biểu đạt chứ không phải nghệ thuật phát minh…, người ta thích thú vì cách trình bày chúng chứ không phải vì sức mạnh và vẻ đẹp riêng của nó”(1).
Trên thực tế, vai trò của ngôn từ được đề cao một cách đặc biệt từ thế hệ các nhà thơ tượng trưng cuối thế kỉ XIX. Stéphane Mallarmé từng cho rằng thơ trước tiên là “ma thuật ngôn từ” và kêu gọi “hãy nhường sáng kiến cho những từ”. Cùng thời với Mallarmé, Arthur Rimbaud – một thiên tài vụt sáng - say mê phát minh “những loài hoa mới”, “những tinh cầu mới”, những ngôn ngữ mới chưa từng bị “ô uế”. Ông quan niệm chữ viết là một kinh nghiệm tự thân, nó “không tìm cách khoanh vòng thực tại mà (phải) là một phát kiến mới mẻ”(2). Đứa con nghịch đạo của thế kỉ cực trị của tinh thần duy lí đã dứt khoát với ý nghĩ “lĩnh vực của khoa học là lĩnh vực mà sự vật hiện diện ấy thôi, chứ chưa phải lĩnh vực mà sự vật thể hiện ý nghĩa”(3), ý nghĩa hay linh hồn sự vật mới là điều đáng nói, chính nó mới làm nên giá trị cho nhà thơ. Nỗi bận tâm của Mallarmé hay Rimbaud đã trở thành nỗi bận tâm có tính đại điện cho nhiều thế hệ nhà thơ hiện đại. Và không phải ngẫu nhiên, không ít nhà thơ đã nhìn thấy ở Rimbaud hình ảnh một nhà thơ “tiên tri
草蘼
Tính hiện đại của Thơ Việt Nam xét trên ngôn từ
13/01/2011 01:54
Vượt ra ngoài không gian văn học vùng để tham gia vào một không gian văn học rộng lớn hơn là chiều hướng vận động có tính tất yếu đối với văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX, trong đó có thơ. Đó cũng chính là quá trình hiện đại hóa. Đối với văn học Việt Nam, do trực tiếp tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn học Pháp, nên quá trình đó cũng chính là thế giới hóa và phương Tây hóa. Quá trình ấy diễn ra trên nhiều bình diện, từ sự cảm nhận thế giới, sự đồng hóa thế giới thành nội dung nghệ thuật đến sự sáng tạo và vận dụng các phương tiện diễn đạt… theo tinh thần hiện đại. Bài viết này chỉ nhấn mạnh một số biểu hiện tính hiện đại trên phương diện ngôn từ, một trong những vấn đề quan trọng đối với các nhà thơ trong phong trào thơ mới 1932-1945.
Vượt ra ngoài không gian văn học vùng để tham gia vào một không gian văn học rộng lớn hơn là chiều hướng vận động có tính tất yếu đối với văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX, trong đó có thơ. Đó cũng chính là quá trình hiện đại hóa. Đối với văn học Việt Nam, do trực tiếp tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn học Pháp, nên quá trình đó cũng chính là thế giới hóa và phương Tây hóa. Quá trình ấy diễn ra trên nhiều bình diện, từ sự cảm nhận thế giới, sự đồng hóa thế giới thành nội dung nghệ thuật đến sự sáng tạo và vận dụng các phương tiện diễn đạt… theo tinh thần hiện đại. Bài viết này chỉ nhấn mạnh một số biểu hiện tính hiện đại trên phương diện ngôn từ, một trong những vấn đề quan trọng đối với các nhà thơ trong phong trào thơ mới 1932-1945.
1. Trong văn học phương Tây, văn học tiền hiện đại chủ yếu chú trọng phương diện nội dung, xem vấn đề đề tài, chủ đề, nội dung các hình tượng quyết định giá trị của một tác phẩm. Văn học lãng mạn ra đời được xem như một “hủy thể” của chủ nghĩa cổ điển, tuy nhiên, do hầu hết các nhà văn lãng mạn gắn hoạt động văn học với những hoạt động xã hội và do sáng tạo trong thời đại người phương Tây đang còn lạc quan về quyền năng của tư duy duy lí nên sự đối lập với văn học cổ điển chủ yếu biểu hiện ở khuynh hướng tự do hóa, đề cao cảm xúc và tưởng tượng cá nhân, phản ứng tính công thức, qui phạm... Và vì vậy, dù đó là “một sự bùng nổ kinh động”, là “chân trời không giới hạn”…, nhưng nhìn chung, sự quan tâm của các nghệ sĩ lãng mạn chủ yếu vẫn thiên về cái được biểu đạt chứ không phải cái biểu đạt. Sau sự thoái trào của trào lưu này, tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt dường như có sự sắp xếp lại, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn từ, gắn liền với tinh thần “vị nghệ thuật”, bắt đầu từ phái Parnasse, và sau đó là sự ra đời của trào lưu hiện đại chủ nghĩa. Về sự hoán vị tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, Roland Barthes đã nêu nhận xét thú vị, có tính tổng kết: “Ý nhị cổ điển là ý nhị về các mối quan hệ, chứ không phải về từ: đó là nghệ thuật biểu đạt chứ không phải nghệ thuật phát minh…, người ta thích thú vì cách trình bày chúng chứ không phải vì sức mạnh và vẻ đẹp riêng của nó”(1).
Trên thực tế, vai trò của ngôn từ được đề cao một cách đặc biệt từ thế hệ các nhà thơ tượng trưng cuối thế kỉ XIX. Stéphane Mallarmé từng cho rằng thơ trước tiên là “ma thuật ngôn từ” và kêu gọi “hãy nhường sáng kiến cho những từ”. Cùng thời với Mallarmé, Arthur Rimbaud – một thiên tài vụt sáng - say mê phát minh “những loài hoa mới”, “những tinh cầu mới”, những ngôn ngữ mới chưa từng bị “ô uế”. Ông quan niệm chữ viết là một kinh nghiệm tự thân, nó “không tìm cách khoanh vòng thực tại mà (phải) là một phát kiến mới mẻ”(2). Đứa con nghịch đạo của thế kỉ cực trị của tinh thần duy lí đã dứt khoát với ý nghĩ “lĩnh vực của khoa học là lĩnh vực mà sự vật hiện diện ấy thôi, chứ chưa phải lĩnh vực mà sự vật thể hiện ý nghĩa”(3), ý nghĩa hay linh hồn sự vật mới là điều đáng nói, chính nó mới làm nên giá trị cho nhà thơ. Nỗi bận tâm của Mallarmé hay Rimbaud đã trở thành nỗi bận tâm có tính đại điện cho nhiều thế hệ nhà thơ hiện đại. Và không phải ngẫu nhiên, không ít nhà thơ đã nhìn thấy ở Rimbaud hình ảnh một nhà thơ “tiên tri
 








Các ý kiến mới nhất